BIỂU TƯỢNG LƯỠI TRONG TIẾNG VIỆT
T.S Hoàng Kim Ngọc
1. Dẫn nhập
Biểu tượng, theo Từ điển Petit
Larousse, là “dấu hiệu hình ảnh, con vật sống động hay đồ vật biểu hiện một
điều trừu tượng, nó là hình ảnh cụ thể của một sự vật hay một điều gì đó.” Theo
C.S.Jung, “Biểu tượng là một danh từ, một tên gọi hay một đồ vật, ngay cả khi
quen thuộc trong đời sống hàng ngày nhưng vẫn chứa đựng mối liên hệ về mặt ý
nghĩa, bổ sung và cái ý nghĩa ước định hiển nhiên và trực tiếp của chúng.”
Như vậy, biểu tượng là một hình
thức ký hiệu của con người, là công cụ để con người tri nhận thế giới. Biểu
tượng tồn tại dưới hình thức ngôn ngữ là biểu tượng ngôn từ, là một hệ thống ký
hiệu 2 tầng bậc, giúp truyền tải ý nghĩa sâu xa trong một hình thức ngắn gọn,
góp phần tạo hàm ngôn. Với khả năng kết hợp của ngôn ngữ thì biểu tượng ngôn từ
có thể mở rộng ý nghĩa, đặc biệt rất hiệu quả trong văn chương. Khi thực hiện
chức năng thẩm mĩ trong một tác phẩm văn học, biểu tượng ngôn từ được cấu tạo
lại, tổ chức lại trong mối quan hệ với các nhân tố của quá trình giao tiếp đặc
biệt như một hoạt động sáng tạo. Các nhà văn, nhà thơ dựa trên những mối quan
hệ hoặc bổ sung, hoặc tương phản, hoặc đẳng cấu để tổ chức các tín hiệu thẩm mĩ
hướng tới việc khắc họa nổi bật hình tượng nghệ thuật, cũng từ đó mà thể hiện
lối tư duy nghệ thuật riêng, một phong cách sáng tạo riêng. Do vậy, một trong
những chìa khóa để khám phá giá trị nghệ thuật của một tác phẩm văn học là giải
mã các biểu tượng trong tác phẩm trên nền tri thức văn hóa chung được sử dụng dưới
ý đồ, sáng tạo của người nghệ sĩ ngôn từ.
Ở bài viết này, chúng tôi tìm
hiểu ý nghĩa của biểu tượng lưỡi trong lời ăn tiếng nói hàng ngày và trong văn
học, cụ thể là thơ ca đương đại Việt Nam.
2. Lưỡi và biểu tượng lưỡi
trong văn hóa truyền thống
2.1. Từ góc độ khoa học, Lưỡi
là cơ quan vị giác nằm trong khoang miệng của động vật có xương sống. Ở động
vật có vú, lưỡi là khối cơ vân chắc, phủ ngoài bằng lớp biểu bì phân lớp, phía
dưới là lớp mô liên kết. Mặt trên lưỡi có nhiều nhú cảm giác (chồi cảm giác).
Trên lưỡi chia thành một số vùng tương ứng với khả năng cảm giác, vị giác khác
nhau. Các vị giác mà lưỡi có thể cảm nhận rồi “phản ánh” như: ngọt, mặn, chua,
cay, đắng… (Wikipedia). Lưỡi là bộ phận mềm, không xương, chuyển động bằng các
cơ, có khả năng uốn dẻo linh hoạt. Lưỡi có chức năng vô cùng quan trọng trong
hoạt động ăn uống và nói năng của con người. Trong ăn uống, lưỡi nhận, đưa và
đảo thức ăn trong khoang miệng. Lưỡi là bộ phận cảm nhận vị giác, giúp con
người cảm nhận được các vị khác nhau của thức ăn. Trong nói năng, lưỡi là cơ
quan cấu âm không thể thiếu. Để phát ra một tiếng/ âm tiết, con người phải sử
dụng các bộ phận trong khoang miệng như răng, môi, ngạc, dây thanh, lưỡi… Lưỡi
có vai trò tạo ra sức cản luồng không khí thoát ra từ họng để phát ra các âm
thanh. [4,151]
2.2. Chính vì lưỡi có đặc điểm
và chức năng như trên nên trong quan niệm văn hóa truyền thống, lưỡi trước hết
biểu trưng cho lời ăn tiếng nói của con người.
Từ điển biểu tượng văn hóa thế
giới đã cho rằng, lưỡi là biểu tượng của sự hình thành, tạo tác lời nói, là
nguồn gốc của lời. Trong tiếng Anh, tiếng mẹ đẻ được thể hiện bằng từ
mother-tounge (tounge là cái lưỡi), hoặc thành ngữ Keep your tounge cũng có
nghĩa là giữ mồm, giữ miệng, thận trọng lời ăn tiếng nói. Trong tiếng Việt,
cũng có những câu như:
– Uốn lưỡi bảy lần trước khi
nói.
– Ngậm cái miệng lại không tao
đánh cho gãy lưỡi bây giờ!
– Ăn nói cẩn thận không có lại
bị cắt lưỡi.
Khi lời nói làm phật lòng, gây
tức giận người khác, lưỡi – công cụ tạo ra lời nói đó, nguồn phát ra lời nói đó
– phải là nơi để trút giận, để ngăn nó tiếp tục.
Đức Phật đã dạy rằng bệnh tật
của con người từ miệng vào, tai ương của con người cũng từ miệng mà ra (vạ
miệng). Lưỡi – nguồn gốc của lời nói – “bị” cho là nguồn gốc của tai ương [1,
549] . Thánh Gia-cô-bê đã nói: “Lưỡi tuy bé nhỏ, nó đã nói lên nhiều điều vĩ
đại mà chính nó cũng làm hoen ố cả con người chúng ta.” (8). Esope trong câu
chuyện ngụ ngôn nổi tiếng đã cho rằng không có gì quý giá bằng lưỡi vì lưỡi là
chìa khóa của triết lý, mỹ thuật và chân lý, cũng không có gì trên đời xấu bằng
lưỡi, nó là mầm chiến tranh ly loạn, là nguyên nhân của hiềm thù, ghen ghét
(8). Lịch sử đã chứng minh, rất nhiều trường hợp con người không cần dùng gươm
dao, súng đạn để tiêu diệt kẻ thù mà chỉ cần dùng cái lưỡi (Uốn ba tấc lưỡi).
Sức mạnh của cái lưỡi chính là sức mạnh lời nói.
2.3. Từ chỗ biểu trưng cho lời
ăn tiếng nói, ý nghĩa của lưỡi tiếp tục phát triển, mở rộng, trở thành một biểu
tượng phản ánh nhân cách con người.
Cổ nhân đã dạy: Sông sâu còn có
kẻ dò, lòng người nham hiểm ai đo cho tường; Biết mặt không biết lòng. “Mặt” là
cái thể hiện ra bên ngoài, “lòng” là suy nghĩ thực bên trong. Lời nói chính là
một trong những “mặt” thể hiện đó. “Mặt” này vô cùng đa dạng. Không phải ngẫu
nhiên mà trong tiếng Việt lại tồn tại nhiều từ ngữ, thành ngữ liên quan đến lời
nói đến như vậy (nói dóc, nói bóng nói gió, nói càn, nói cạnh nói khóe, nói
chọc, nói chơi, nói chua, nói cứng, nói mỉa, nói ngoa, nói ngang, nói nhăng nói
cuội, nói như thánh phán, nói như vẹt, nói phách, nói phét, nói trạng, nói quấy
nói quá,….). Mỗi kiểu nói thể hiện một tâm trạng, tính cách khác nhau. Như vậy,
lưỡi tạo lời nói, lời nói thể hiện nhân cách nên lưỡi biểu trưng cho nhân cách
thể hiện trong giao tiếp, ứng xử, phát ngôn hàng ngày. Do tính chất mềm dẻo của
lưỡi được ẩn dụ cho lời nói dễ thay đổi (Lưỡi không xương trăm đường lắt léo)
nên nói chung biểu tượng lưỡi khi gắn với nhân cách của con người thì thường
mang sắc thái tiêu cực. Chẳng hạn, sự độc địa, ác tâm: Miệng lưỡi thế gian; Lưỡi
người độc quá đuôi ong…; sự giả tạo, phản trắc: Lưỡi không xương nhiều đường
lắt léo (tục ngữ); chót lưỡi đầu môi (thành ngữ); Khôn khéo chẳng qua ba tấc
lưỡi (Nguyễn Công Trứ); Những sự ba đào xeo tấc lưỡi (Hồ Xuân Hương)…
Ngoài ra, đặc điểm mềm dẻo (trong
sự so sánh với răng) của lưỡi còn là cơ sở để tạo hàm ý, biểu trưng cho cách
sống linh hoạt, khôn khéo. Xưa, Lão Tử đến thăm người thầy Phương Dung đang ốm
nặng. Lão Tử đã trả lời rất đúng ý thầy về cái răng và cái lưỡi. Sở dĩ lưỡi còn
là vì lưỡi mềm, còn răng rụng vì răng cứng. Đạo lý này không chỉ đúng với răng
và lưỡi mà còn ứng với mọi việc trong thiên hạ [9]. Triết lý phương Đông đề cao
tính linh hoạt, tùy cơ ứng biến. Sống không cứng nhắc, lựa theo tính chất sự
việc mà ứng xử có hiệu quả, lạt mềm buộc chặt còn hơn là chỉ khư khư ôm lấy
nguyên tắc của riêng mình.
Bên cạnh đó, cũng trong sự đối
sánh với răng, cặp biểu tượng răng – lưỡi còn biểu trưng cho một cách sống
khác. Lưỡi và răng được nhân hóa là hai anh em trong cùng một nhà, lưỡi là anh
và răng là em. Bài thơ vịnh chuyện Răng cắn lưỡi đã minh chứng cho điều đó: Vào
thời Tự Đức, Nguyễn Đăng Hành, con Nguyễn Đăng Giai, là người hay chữ. Nhân dẹp
được âm mưu lật đổ của Hồng Bảo, Tự Đức mở tiệc ăn mừng. Trong khi đang đãi yến
các quan, nhà vua ăn uống sơ ý nên để răng cắn phải lưỡi. Vua bèn lấy sự việc
này bảo các quan làm thơ để mua vui. Các quan đều làm thơ dâng lên vua, nhưng
chỉ có bài của Nguyễn Đăng Hành là hay hơn cả. Bài thơ như sau: Ngã sinh chi
sơ, nhữ vị sinh/ Nhữ sinh chi hậu, ngã vi huynh/ Kim triều hạnh hưởng cao lương
vị/ Hà nhẫn độc thương cốt nhục tình. Dịch là: Tớ sinh, ngươi ra đời/ Ngươi
sinh sau tớ, tớ thời làm anh/ Hôm nay ăn uống ngon lành/ Mối tình cốt nhục sao
đành hại nhau?
Rõ ràng đây là bài thơ nói về
việc răn cắn lưỡi. Lưỡi có trước khi mọc răng, vậy thì lưỡi là anh mà răng là
em. Thế mà khi được miếng ăn ngon đáng lẽ cùng nhau hưởng thụ thì răng lại nỡ
lòng cắn lưỡi để tranh ăn lấy một mình, Tự Đức xem xong biết là Hành muốn ám
chỉ việc riêng của mình, nhà vua sai đem tác giả ra cửa Ngọ Môn đánh ba chục
roi về cái tội châm biếm phạm thượng. Sau đó, để tỏ rằng mình biết quý trọng
văn tài, nhà vua lại thưởng tiền lụa rất hậu. Câu chuyện răng – lưỡi nhắc nhở
ta phải biết sống có trên có dưới, có trước có sau. (Theo Kho tàng giai thoại
Việt Nam)
Như vậy, trong văn hóa thế
giới, văn hóa phương Đông nói chung, văn hóa Việt nói riêng, lưỡi đã là hình
ảnh mang ý nghĩa rộng hơn ý nghĩa biểu vật vốn có của nó. Trên nền nhận thức
chung, người Việt đã mượn lưỡi để biểu hiện cho lời ăn tiếng nói, biểu hiện cho
nhân cách, lối sống của con người.
Ngoài ra, ở một khía cạnh khác
trong tình yêu, lưỡi còn tham gia vào những nụ hôn. Thậm chí còn có hẳn một
cách hôn là hôn lưỡi. Tuy nhiên, khác với đôi môi là hình ảnh thường được nhắc
tới trong thơ ca trước đây như một biểu tượng của nụ hôn lãng mạn, thơ mộng thì
gần đây, trong thơ đương đại lưỡi mới được xuất hiện gắn liền với nụ hôn nhưng
là nụ hôn của nhục cảm khát khao mà chúng tôi sẽ đề cập rõ hơn ở phần sau.
3. Biểu tượng lưỡi trong thơ
đương đại Việt Nam
Quá trình đi từ biểu tượng văn
hóa đến biểu tượng ngôn ngữ nghệ thuật (biểu tượng thơ văn) là một quá trình
mang ý nghĩa tiếp nhận, điều chỉnh, vừa tồn tại những nét nghĩa tương đồng, vừa
có những độ chênh nhất định tùy theo từng cá tính sáng tạo của mỗi nghệ sĩ.
Biểu tượng lưỡi với ý nghĩa chỉ lời ăn tiếng nói, chỉ nhân cách, lối sống của
con người vẫn xuất hiện trong các tác phẩm thơ đương đại, tuy nhiên nó được
phát triển theo hai chiều hướng: một là, giữ nguyên hàm ý chỉ sự lắt léo, phản
trắc ; hai là, biểu tượng lưỡi được tô đậm, nhấn mạnh trên một phạm vi, đối
tượng cụ thể – con người nghệ sĩ. Bên cạnh đó, trong số tác phẩm thơ đương đại,
lưỡi còn phát triển một ý nghĩa biểu tượng hoàn toàn mới mẻ – biểu tượng của
khát khao, nhục cảm.
Tiếp sau đây, chúng tôi sẽ dành
sự quan tâm để bàn đến biểu tượng lưỡi với những ý nghĩa mang dấu ấn cách tân
của thơ đương đại Việt Nam.
3.1. Lưỡi biểu trưng cho tình
yêu mãnh liệt mang đầy khao khát nhục cảm
Thơ đương đại chứng kiến những
giọng nói đột phá của nhiều cây bút trẻ, nằm trong nỗ lực cách tân thơ từ nội
dung đến hình thức (mặc dù chưa thể đưa ra một khẳng định về thành quả của nó),
để thể hiện khát vọng nhục cảm. Có người đã nhận xét rằng, thơ đương đại lấy
việc hòa nhập đời thường làm tiêu chí, không ngại dùng những từ ngữ “trần
trụi”, không ngại nói sex một cách thẳng thắn và trút bỏ lớp áo tu từ.Lưỡi được
nhắc đến trong một số câu thơ với ý nghĩa thực, ý nghĩa biểu vật của nó.
Bằng những hình ảnh siêu thực,
Mai Văn Phấn lại diễn tả rất chân thực kiểu hôn lưỡi dài hơi “đứt cuống”, xoắn
bện “thành dây chão”, nụ hôn đắm say cuồng nhiệt làm rung động mọi nơ-ron thần
kinh, tế bào, cảm xúc chạy dọc cơ thể từ môi xuống ngực, xuống sống lưng rồi
xuống gót chân, từ trên xuống dưới, từ đầu xuống chân:
Môi sương ngậm vạt cỏ đầm
Vụt bay theo vách cao dựng đứng
Bẻ gãy, bện em thành dây chão
Nuốt sâu chiếc lưỡi xuống ngực
Tới sống lưng
Chạm gót chân anh
(Hình đám cỏ, Nhịp 4, Mai Văn
Phấn).
Hồn nhiên cho lưỡi và răng anh
chạm vào cơ thể…
(Ngậm em trong miệng, Mai Văn
Phấn)
Hay cảm giác nhột nhạt, mơn
trớn của “Cái lưỡi mềm của anh nơi gan bàn chân em” (Sinh ngày 4 tháng 4) trong
thơ Vi Thùy Linh. Rỗi bỗng bừng lên như ngọn lửa bỏng rát khát khao:
Bừng từng đêm lưỡinhư ngọn lửa
liếm vào thân sóng nóng.
(Mùa thụ mầm, Vi Thùy Linh)
Mùi hương ngân đôi ta
Lưỡi hồng lướt lên bộ xiêm áo.
(Tháng tư, Vi Thùy Linh)
Người đàn bà làm bật tiếng tru
liên hồi của hoa, bằng lưỡi.
(Dấu vết, Vi Thùy Linh)
Rồi cả nỗi đam mê như “cơn
nghiện” nha phiến:
Lưỡi. Răng. Nha phiến.
(Điệp khúc sáng mùa đông, Phan
Huyền Thư)
Có thể nói, trong những dòng
thơ trên, lưỡi là hiện hình của tình yêu mãnh liệt với bao cung bậc của cảm xúc
để lại dấu vết trên cơ thể, da thịt. Nếu trước đây, chúng ta đã xúc động, run
rẩy với những ánh mắt, bờ môi, nụ hôn, bàn tay… bấu, riết, ghì … trong thơ tình
1930 – 1945, thì đến nay người đọc được tiếp xúc với răng, lưỡi, vòm họng…
trong cảm giác lặn sâu, hòa quyện, tan chảy của tâm hồn và thể xác. Nếu so với
ánh mắt thì cảm giác mà lưỡi mang lại dường như mang tính vật chất hơn. Ánh mắt
– cửa sổ tâm hồn – là sự gặp gỡ của những tâm hồn đồng điệu, mang ý nghĩa tinh
thần nhiều hơn thể xác. Còn lưỡi là một trong những bộ phận chứa nhiều dây thần
kinh nhất, cho nên lưỡi với cái hôn “đánh lưỡi” và nhiều chuyển động táo bạo đã
cho ta cảm nhận bằng da bằng thịt, bằng sự đê mê của những luồng dây thần kinh
những cảm xúc nồng nàn, say đắm của tình yêu. Lưỡi đã được trở về đúng ý nghĩa
biểu vật – một bộ phận thân thể. Hãy so sánh hai câu thơ của hai nhà Thơ Mới:
Tôi mượn tình câm mớm lưỡi răng
(Lời tuyệt mệnh, Bích Khê)
Tôi nói mùa xuân níu lưỡi tôi.
(Xuân Diệu)
Cái lưỡi trong Thơ Mới cũng
được sử dụng để nói về những đam mê, khát vọng, tuy nhiên lưỡi ở đây không là
cái lưỡi thực, chúng mang ý nghĩa tu từ nhiều hơn, đi kèm theo là tình câm, là
mùa xuân mang tính trừu tượng. Còn lưỡi trong thơ Mai Văn Phấn, Vi Thùy Linh,
Phan Huyền Thư… phải là những cái lưỡi đi cùng với gan bàn chân, với răng, môi,
thịt da và cơ thể…
Cái lưỡi trong không gian hư ảo
nhưng vẫn lồ lộ nhục dục:
Phiêu diêu mắt thấy con đường
tơ lụa
phiêu diêu lưỡichạm đáy mềm Âu
Cơ
(Âu Cơ, Vi Thùy Linh)
Đáy mềm Âu Cơ– một hình ảnh nửa
hư, nửa thực, tuy nhiên vẫn gợi lên được cảm giác chạm đáy mềm (phần còn lại là
tùy vào sự tưởng tượng của từng người đọc).
Hay:
Đêm đã nhuốm màu lên chiếc
lưỡicủa em
Để em không thể nhìn thấy anh
Bằng vị giác
(Đêm và anh, Ly Hoàng Ly)
Lưỡi của em nhìn anh trong đêm
tối, giống như bàn tay của người khiếm thị, thay đôi mắt để cảm nhận người
tình.
Lưỡi biểu tượng cho cảm giác
nhục thể. Các nhà thơ đã chú tâm khai thác kĩ khía cạnh này và thậm chí từ đây
còn sáng tạo ra những kết hợp ngôn ngữ mới lạ. Theo Từ điển tiếng Việt, nghĩa
thứ hai của lưỡi chỉ một bộ phận của đồ vật như lưỡi dao, lưỡi cày, lưỡi liềm,
lưỡi cuốc… [3, 598]. Đây là kết quả của phương thức ẩn dụ dựa trên nét tương
đồng về tính chất, chức năng của lưỡi: nơi tiếp xúc đối tượng khác. Trong một
số tác phẩm thơ đương đại, ta còn thấy những kết hợp từ ngữ sáng tạo, mới lạ:
lưỡi sóng, lưỡi gió, lưỡi trăng, lưỡi nến, lưỡi lửa, chùm lưỡi… với ý nghĩa chỉ
cảm giác.
Những lưỡi gió thơm tho luồn
vào lỗ tai
ấp lên hoang sơ giấc mơ của cỏ
(Dấu vết bình minh, Mai Văn
Phấn)
Ngùn ngụt cháy lưỡi lửa
miên man trụ vững gió môi chao
lắc
(Hình đám cỏ, Nhịp VI, Mai Văn
Phấn)
Đôi môi muốn mọc chân chạy trên
da thịt
Lưỡi lửa thèm thuồng nhoài đến
chân rơm
(Giọng nói, Mai Văn Phấn)
Chùm lưỡi dìu nhau đứt cuống
xuyên qua tim lăn vào đất tơi
(Được quyền nghĩ những điều đã
ước, Mai Văn Phấn)
Ngân trong cái lưỡi trăngchói
sáng và sắc lẻm
(Những người đàn bà gánh nước
sông, Nguyễn Quang Thiều)
Lưỡi gió đã thò ra, đã liếm
vòng quanh
Đã vỡ lá, đã gãy cành, đã dập
cỏ
(Thì thào khu vườn, Nguyễn
Quang Thiều)
Hoặc miêu tả sự vật có những
hành động của lưỡi:
…những vệt sáng ngắn chảy từ
gốc lên cành
Chúng ngoan ngoãn liếm trăng
trên những chiếc thìa lá mạ bạc
Lũ trẻ còng queo ngủ
Những dãy số đánh lừa và phản
bội chúng
Trong mơ chúng có liếm trăng
trên vòm lá kia không?
(Dưới trăng và một bậc cửa,
Nguyễn Quang Thiều)
Với những kết hợp như thế này,
đối tượng được miêu tả với hình thái khác lạ, người đọc được phép liên tưởng,
mở rộng nhận thức của mình về đối tượng. Những gió, những trăng, những lửa trở
nên gợi cảm hơn, mềm mại, đa tình hơn.
Tóm lại, chiếc lưỡi là một hình
ảnh thơ được trở về với nguyên dạng bản thể của nó, với nét nghĩa biểu vật,
nhấn mạnh ở nét nghĩa là chiếc lưỡi của cảm giác, không tồn tại chỉ trong hình
thức thành ngữ, ngữ cố định. Hình ảnh lưỡi đi kèm với sự sáng tạo sử dụng của
từng tác giả, mang ý nghĩa biểu cảm, cá tính với thủ pháp ám gợi, hiển hiện dấu
ấn nhục cảm phồn thực.
3.2. Lưỡi biểu tượng của tiếng
nói, nhân cách, trách nhiệm của người nghệ sĩ
Cũng theo ý nghĩa biểu tượng
truyền thống nhưng lưỡi đã có sự tiếp nối, phát triển. Lưỡi mang sứ mạng của
tuyên ngôn. Trong đời sống văn học hiện nay, đặc biệt thơ ca đương đại, đang
tồn tại một nhu cầu lên tiếng, định hình quan niệm, lập trường thơ. Lúc này,
lưỡi trở về với ý nghĩa là đại diện của lời nói, của phát ngôn, hay nói đúng
hơn của tuyên ngôn. Nếu trước đây người ta thường dùng hình tượng ngòi bút
(phương tiện tạo ngôn ở cấp độ ký hiệu thứ hai – chữ viết) để biểu thị cho sáng
tác của nhà thơ, nhà văn, nhà báo nói chung (Đâm mấy thằng gian bútchẳng tà
(Nguyễn Đình Chiểu), Dùng bútlàm đòn xoay chế độ (Sóng Hồng) thì nay, thơ đương
đại lại dùng hình tượng lưỡi (phương tiện tạo ngôn ở cấp độ ký hiệu thứ nhất –
tiếng nói). Và hơn nữa, lưỡi nằm trong tổng thể khuôn mặt còn thể hiện cho nhân
cách, thể diện của người nghệ sĩ. Qua hình tượng lưỡi, những trăn trở, suy
ngẫm, nhân cách, trách nhiệm của người nghệ sĩ đã được bày tỏ. trong ý nghĩa
này, phải kể đến các sáng tác tiêu biểu cua các tác giả Mai Văn Phấn, Trần
Quang Quý, Nguyễn Quang Thiều, Phan Huyền Thư…:
Trớ trêu thay bi kịch của lời
nằm trong rung động lưỡi
(Không đề, Trần Quang Quý)
Nhà thơ Trần Quang Quý băn
khoăn, giằng xé về trách nhiệm với phát ngôn, lời nói. Không nói bằng chiếc
lưỡi của người khác, mỗi lần lập ngôn phải là một sự suy ngẫm thấu đáo, và tác
giả đã khoác cho chiếc lưỡi, hay chính những câu thơ của mình rất nhiều trách
nhiệm, bổn phận và vai trò:
Tôi không nói bằng chiếc lưỡi
của người khác
chiếc lưỡi đi qua ngàn cơn bão
từ vựng
chiếc lưỡi trồi sụt trên núi
đồi thanh âm, trên thác ghềnh cú pháp
chiếc lưỡi bị hành hình trong
một tuyên ngôn…
(Lời, Trần Quang Quý)
Đó chính là một cam kết, một
khát khao, một nguyên tắc của người nghệ sĩ thể hiện lập trường và giọng điệu
riêng mang cá tính sáng tạo của bản thân mình. Bài thơ nhan đề là Lời nhưng
lưỡi là hình tượng trung tâm, biểu thị lời.
Lời nằm tại lưỡi. Bi kịch của
người nghệ sĩ là chiếc lưỡi tầm thường, cạn sức sống. Chiếc lưỡi sống nhạt,
đang héo dần và đánh mất vai trò, sứ mệnh của nó, đánh mất sứ mệnh của người
làm nghệ thuật ngôn từ:
Chiếc lưỡi giẫy giụa trong vũng
cạn ngôn từ
Tôi vừa gặp nó hổn hển thoát ra
từ diễn đàn hội nghị
Tôi cũng thấy nó hôm qua đang
mặc cả bán mua nì nèo cổng chợ
Chiếc lưỡimặc chiếc quần trễ
rốn
Dè sẻn đong quá khứ
Đếm từng hạt tương lai
(Mắt thời gian cắt lớp, Trần
Quang Quý)
Sự nhạt hay tằng tịu với gương
mặt nhẵn mỏng
“Buôn dưa lê” thậm thụt vỉa hè
E ngại đắng cay gia vị
Thích mỡ màu chót lưỡi đầu môi
(Sự nhạt, Trần Quang Quý)
Trong khi Trần Quang Quý ngán
ngẩm cùng chiếc lưỡi “buôn dưa lê” thậm thụt vỉa hè, nhận chân những trò nhạt
nhẽo của văn chương thì Phan Huyền Thư tham dự vào Giấc mơ của lưỡi để rồi hân
hoan:
Tôi nghe sấm phục sinh rền mặt
đất
cơn mưa rào lân tinh
Nấm mộ nở vụt hoa Tử huyền
Và giấc mơ của lưỡi
bắt đầu mở nguyên âm
Giấc mơ của lưỡi hay giấc mơ,
khát khao của nhà thơ muốn phá cách, sáng tạo, vượt thoát khỏi những cũ kỹ,
muốn cách tân, khác biệt, phá bỏ rào cản truyền thống, vượt thoát “vũng cạn
ngôn từ” để bơi ra đại dương của sáng tạo, cá tính. Hình ảnh “lưỡi nằm ngoan”
thể hiện sự thuận theo, chấp nhận cái cũ kỹ, sáo mòn. Giấc mơ của lưỡi là giấc
mơ được mở nguyên âm, được tái sinh sau một cơn quằn quại, cùng đó là những
hình ảnh sấm phục sinh, mưa rào, nấm mộ nở vụt hoa góp phần tạo nên một trường
nghĩa biểu thị cho phút thăng hoa sáng tạo, “sản sinh” thi tứ của nhà thơ.
Chiếc lưỡi giãy giụa trong vũng
cạn ngôn từphản ánh thực trạng của văn nghệ đang cũ dần, sống mòn với truyền
thống, đang đi vào khuôn sáo, nghèo nàn sáng tạo. Có ý kiến cho rằng, kể từ
những cách tân từ thời Thơ Mới thì thơ ca Việt Nam vẫn chưa thực sự tiến thêm
một bước ngoặt nào, thậm chí chỉ bước tiếp theo những bước đi của các tiền bối
trong “Thi nhân Việt Nam”. Cách tân là cần thiết, tuy nhiên nó vẫn chưa định
hình được một lối đi. Và “chiếc lưỡi giãy giụa” là một cố gắng, một khát vọng
vượt thoát khôn nguôi của người nghệ sĩ không chấp nhận chết.
Trong hành trình sáng tạo ấy,
nhà thơ nhận thức rõ mình như diễn viên xiếc chao đảo trên sợi dây bên dưới là
vực thẳm. Để đạt được trạng thái cân bằng với một bên là những cám dỗ, thỏa
hiệp, hài lòng với chính mình, một bên là những hiểm nguy đang rình rập, sẵn
sàng bổ ra xâu xé con chữ và trên đầu là trách nhiệm của người cầm bút, áp lực
ấy vô cùng căng thẳng và nặng nề.
Miệng bóng tối ghé vào
thanh bạch
Hơi độc từng phun ngược lại
âm hình
Nơi đoán phạt trắng đen,
thiện ác
Lá cỏ trồi ra chiếc lưỡiphân
minh.
(Tập phát âm, Mai Văn Phấn)
Bài thơ với cái tên Tập phát
âm, tức trước đó chủ thể trong trạng thái câm lặng, không biết nói hoặc không
nói được, bị khóa chặt miệng hoặc đã mắc thói quen không nói… Chiếc lưỡi trong
khổ thơ cuối cùng của bài được “trồi ra” giữa ranh giới của chân – ngụy, thiện
– ác, trắng – đen… là kết quả tất yếu của lẽ phải, của tự nhiên, của khát vọng
sự sống con người. Lá cỏ trồi ra chiếc lưỡi nơi Miệng bóng tối ghé vào
thanh bạch/ Hơi độc từng phun ngược lại âm hình. Lưỡi ở đây đã xuất hiện
làm sứ mệnh “phân minh” cho lịch sử, trả lại sự thật cho lịch sử.
Người nghệ sĩ luôn luôn đấu
tranh với những lực cản, thậm chí cả những thỏa hiệp trong con người mình. Cũng
có lúc nhà thơ suy tư về thân phận mình như thân phận cái lưỡi với cách sống
mềm dẻo, linh hoạt và được người đời cho là khôn ngoan nhưng sao vẫn thấy chạnh
lòng, thẹn một điều là không có được dũng khí của răng:
Trên nỗi đau lưỡicó thể lặng
thinh
hoặc thỏ thẻ những điều ngọt
nhạt
trên nỗi đau hàm răng nghiến
chặt
hoặc căm giận chúng có thể cắn
Và khi bữa tiệc đã trên bàn
Lưỡitinh tế, những chiếc răng
cật lực
chúng như những nông phu trên
đất đai cực nhọc đời mình
có tên gọi giản đơn:
nhai,
cắn
(Răng và lưỡi, Trần Quang Quý)
Răng và lưỡi đại diện cho hai
loại người. Một bên là lưỡi sống theo bản lĩnh, trí tuệ, biết dùng ngôn ngữ đối
xử với đời, một bên là răng sống thẳng thắn, bộc trực. Vậy sống như thế nào là
hơn? Tác giả chỉ ra như thế, còn thái độ đánh giá là tùy vào mỗi người đọc. Rõ
ràng, câu chuyện cổ nhân xưa đã mang ý nghĩa đa chiều hơn trong suy nghĩ của
người nay.
Nhưng cũng có lúc chính người
trong cuộc hiểu rõ bi kịch mình gây ra với cái lưỡi chỉ làm hề, làm xiếc, làm
giả trên tấn trò đời và nhất là tác hại của chúng theo thói a dua. Cách nói
“cộng sinh lưỡi” của Trần Quang Quý là một sáng tạo. Cộng sinh lưỡi hay chính
là cộng sinh người dùng lời nói, phát ngôn của mình để thay đổi trật tự, thay
đổi tư tưởng, giá trị trên diễn đàn và cửa sau bóng tối:
Những chiếc lưỡi quay múa của
diễn đàn và cửa sau bóng tối
cộng sinh lưỡisẽ thành bão vũ
trụ thổi tàn kỷ nguyên
(Những bản tin, Trần Quang Quý)
Đấu tranh với chính mình để
vượt thoát khỏi những rào cản chủ quan, lưỡi còn phải dũng cảm vì quyền được
nói lên tiếng nói của mình, không bị chi phối, bị điều khiển bởi những thế lực
khách quan:
Sau cơn bão nhân gian tôi ngồi
chơi ván cờ những cái mặt
lấy cặp môi này chặn đầu
lưỡikhác
Trong cuộc tranh đấu này, Mai
Văn Phấn góp vào một chiếc lưỡi “ở những đỉnh cột”:
Lưỡi tôi bị thắt
Treo trên đỉnh cột
Mỗi lần nói
Chiếc lưỡi phải co rút kéo thân
thể béo ị lên cao
Tôi giẫy giụa tựa mảnh vải quẫy
trong gió mạnh
Đang nghĩ về chiếc lưỡiđau
Hình ảnh chiếc lưỡi bị treo ở
đỉnh cột trở đi trở lại, ám ảnh, giằng xé. Chiếc lưỡi bị treo là ẩn dụ cho
những ràng buộc, níu kéo khi thi sĩ sáng tạo. Những tuyên ngôn, những quan niệm
nghệ thuật mỗi lần “cất tiếng” thì luôn bị trì kéo, níu giữ bởi rất nhiều những
chi phối, hệ lụy khác. Chiếc lưỡi và thân thể béo ị hay lời nói và những thực
tế cuộc sống khó có thể để cho lưỡi vượt thoát, bứt phá trên hành trình sáng
tạo. Nỗi đau của nó, phải chăng là những đau đớn vật vã của người nghệ sĩ đi
cùng con chữ (Tôi giẫy giụa tựa mảnh vải quẫy trong gió mạnh). Đây là những
tiếng thét quyết liệt nhưng đầy chua chát trong khát khao được khắc họa sự thật
của đời sống… Một đời sống đa dạng, đa chiều và nhiều hệ lụy…Và phải chăng đỉnh
cột là chuẩn mực, yêu cầu bị cho là cần hướng tới. Trong khi:
Chợt cánh bướm mọc trên bờ đá
Cánh hây hây run rẩy cả chân kè
Rồi tấm biển quảng cáo nước
uống tăng lực
Có ga phun sương mù và chất
lượng cao
Nơi lãng mạn khác!
Thiếu nữ vặn lưng trong bìa
lịch
Miệng cười tươi và giơ tay rất
lâu
Tôi tồn tại bởi cánh bướm, biển
quảng cáo và thiếu nữ không quen biết
Họ nói giùm tôi cuống lưỡivực
sâu
Nhưng sao lại tồn tại biệt lập
Chắc lưỡi của họ đang treo lên
những đỉnh cột khác.
(Ở những đỉnh cột, Mai Văn
Phấn)
Cứu cánh của nghệ thuật là cuộc
sống, nhưng cuộc sống muôn màu với cánh bướm, tấm biển quảng cáo hay thiếu nữ
vặn lưng trong bìa lịch lại ở những đỉnh cột khác. Thước đo dành cho người nghệ
sĩ nhiều khi không trùng với thước đo của những đối tượng khác và bởi vậy không
có tiếng nói chung? Không được nói điều cần nói? Thước đo, lý tưởng không phải
tồn tại hai chiều trên một đỉnh cột mà trong không gian ba chiều với nhiều đỉnh
cột khác nhau và bài toán của người nghệ sĩ là làm sao phải dung hòa, phải tìm
ra được phương cách tốt nhất trong tình trạng “chiếc lưỡi bị treo”.
Lưỡi của Nguyễn Quang Thiều
cũng mang ý nghĩa của những phát ngôn, cái lưỡi là tuyên ngôn, là sự tạo tác
ngôn từ, là tiếng nói, là lập trường, quan điểm nghệ thuật nhưng trong một trận
địa mai phục:
Hãy đi thật nhẹ và tự đọc bản
thảo cuốn sách anh viết trong sợ hãi mê dại
Một con rắn rúc vào đám tóc anh
và nằm phục cái lưỡianh lộ ra
Nó muốn giết anh khi đơn âm đầu
tiên của anh phát nổ
(Hoa tiêu, Nguyễn Quang Thiều)
Người đọc cảm nhận được nỗi
nguy hiểm rình rập chờ sẵn cái lưỡi, những hệ lụy, hiểm nguy phục kích lời nói,
phát ngôn trong hành trình của con người nhận diện sự thật, phát biểu sự thật.
Lưỡi và đầu rắn đôi khi thường đi kèm với nhau (Lưỡi chúng tôi hóa thành đầu
rắn)chuyển hóa hay tha hóa lẫn nhau, hay được đặt cạnh nhau, theo dõi nhau với
một lời nhắc nhở: Một con rắn rúc vào đám tóc anh và nằm phục cái lưỡianh lộ
ra. Đầu rắn, lưỡi và nọc độc khiến chúng ta nhớ tới những câu cổ nhân đã dạy:
Lời nói đọi máu;Bút sa gà chết. Có những lời nói chứa nọc độc của rắn, có những
lời nói ngây thơ, sơ hở để nọc độc rắn biến chất, đổi màu.
Nghiêm khắc với chính mình,
tỉnh táo với từng con chữ, ý thức về vai trò của ngôn ngữ đối với cuộc sống, xã
hội, về đời sống văn hóa tinh thần đương thời, thông qua biểu tượng lưỡi, các
nhà thơ đã đưa ra những vấn đề, những trăn trở đối với sự nghiệp sáng tác và
những “đứa con tinh thần” của mình. Tiếp thu những nhận thức truyền thống, suy
ngẫm về tình hình thơ ca đương thời, các nhà thơ đã thổi vào hình tượng lưỡi một
ý nghĩa mới: nhân cách, trách nhiệm của người nghệ sĩ ngôn từ.
4. Kết luận
Lưỡi trong văn hóa truyền thống
biểu trưng cho lời ăn tiếng nói, cho lối sống, cách đối nhân xử thế. Trong thơ
đương đại Việt Nam, trên cơ sở tiếp nhận quan niệm truyền thống, biểu tượng
lưỡi còn mang những ý nghĩa mới. Lưỡi biểu trưng cho tình yêu mãnh liệt với
những khát khao nhục cảm. Lưỡi là hình tượng để qua đó thi sĩ thể hiện khát
vọng sáng tạo; những nhận thức, trăn trở trong hành trình tìm tới chân – thiện
– mĩ; những quan điểm, tư tưởng, tuyên ngôn về nghệ thuật… Có thể nói, nhờ sự
sáng tạo trong kết hợp từ ngữ với từ lưỡi của các nhà thơ mà ý nghĩa biểu tượng
lưỡi trở nên phong phú, đa nghĩa hơn trong sự tri nhận của người Việt đương
thời.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alain Gheerbrant, Jean
Chevalier, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, NXB Đà Nẵng, 2007.
2. Vũ Đức Nghiệu, Những đơn vị
từ vựng biểu thị tâm lý, ý chí, tình cảm có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người
trong tiếng Việt, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Khoa học Xã hội và Nhân văn 23,
2007.
3. Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê
chủ biên), Từ điển tiếng Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000.
4. Nguyễn Thiện Giáp, Dấn luận
ngôn ngữ học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002.
5. Đoàn Tiến Lực, Lửa: Từ biểu
tượng văn hóa đến biểu tượng ngôn từ, Tạp chí Nghiên cứu văn hóa, số 5, 2011
6. Balla, “Quyền lực của ngôn
từ và quyền lực của biểu tượng”, www.tapchisonghuong..vn
7. Trần Đức Thuận, “Lời nói gió
bay, lời nói đọi máu” www.trannhuong.com
8. Tuyển tập 34 truyện suy
ngẫm. www.gxnamlo.org
9. Những câu chuyện về cái
lưỡi. www.chiaseyeuthuong.net
Sưu tầm từ Tạp chí Ngôn ngữ số 5. 2013


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét