Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, khai sáng nghìn năm
hưng thịnh nước Nam (P.1)
Có bài thơ rằng:
“Sông Đằng một dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”
(Bạch Đằng Giang Phú – Trương Hán Siêu)
Lịch sử như dòng sông dài cuốn đi trong lớp
sóng của nó bao nhiêu sự tích, chiến công, thành bại của cả một dân tộc. Thế kỷ
21 hiện đại với quá nhiều thú vui và dục vọng, mấy ai còn lưu tâm đến những huy
hoàng của quá khứ, những tinh hoa của cổ nhân hay những bài học sâu sắc từ ngàn
xưa?
Việt Nam 4.000 năm văn hiến với nhiều triều
đại kiệt xuất thấm đẫm văn hóa Phật Đạo Thần đã đem đến cho dải đất xinh đẹp
này biết bao nhiêu kỳ tích và truyền kỳ vẫn còn rọi sáng đến tận hôm nay. Chúng
tôi tiến hành loạt bài viết về lịch sử Việt Nam mong muốn đem đến cho quý độc
giả một góc nhìn mới về sử Việt, chính là ôn cũ biết mới, ngẫm chuyện xưa nhìn
chuyện nay, tự đúc rút cho mình những trải nghiệm riêng.
Lý Công Uẩn là vị hoàng đế của triều đại chính
thống lâu dài đầu tiên của nước Đại Việt thống nhất. Ông xuất thân từ cửa chùa,
là người khai vận cho triều Lý, được lịch sử nhắc đến như một vị minh quân đáng
kính, tràn đầy lòng nhân từ. Cuộc đời ông ẩn chứa đầy màu sắc huyền bí, thú vị.
Hãy cùng chúng tôi lần giở lại trang sử cũ về vị hoàng đế đặc biệt này.
Chân mệnh Thiên tử từ cửa Phật
Vận mệnh của Lý Thái Tổ gắn liền với nhà Phật.
Khi mới 3 tuổi, ông đã được mẹ ruột của mình đem lên chùa cho các nhà sư nuôi
dưỡng. Sử chép như sau: “Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm
đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi. Bé đã thông minh, vẻ
người tuấn tú khác thường. Lúc còn nhỏ đi học, nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh
thấy, khen rằng: “Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể
giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”.
Lớn lên, không chăm việc sản nghiệp, chỉ học
kinh sử qua loa, khảng khái có chí lớn. Trong đời Ứng Thiên, xuất thân thờ Lê
Trung Tông. Đại Hành băng, Trung Tông bị giết, vua ôm xác mà khóc, Ngọa Triều
khen là người trung, cho làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, thăng đến chức Tả
thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Đến khi Ngọa Triều băng, bèn lên ngôi hoàng đế,
đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đại xá thiên hạ”.
Đoạn sử trên chỉ cho thấy một điều nổi bật là
Lý Công Uẩn xuất thân từ cửa chùa và là con nuôi của nhà sư. Còn lại thân thế
của ông chỉ được nhắc qua một cách sơ sài. Đó là một thiếu sót và cũng chính là
một bí ẩn của của sử sách. Thời của Lý Công Uẩn chính là thời Phật giáo thịnh
hành. Những thiền sư nổi tiếng khi ấy cũng chính là hiện thân của trí tuệ uyên
thâm và tài năng văn võ trác tuyệt.
Lý Công Uẩn
xuất thân từ cửa chùa và là con nuôi của nhà sư. Ảnh minh họa dẫn theo
wiki.youvivu.com
Bởi vậy việc mẹ Lý Công Uẩn đem con lên chùa
nuôi chưa hẳn là do bà không nuôi nổi, mà chính là một sự sắp đặt của dòng họ
Lý để đào tạo một cách có chủ ý cho Lý Công Uẩn ngay từ thuở nhỏ. Vì sao mẹ của
Lý Công Uẩn không đưa ông lên chùa nào khác mà lại chọn ngôi chùa của Lý Khánh
Văn, nơi có thiền sư Vạn Hạnh nổi tiếng, sau này đã trở thành sư phụ của ông?
Cả Lý Khánh Văn và Vạn Hạnh thực chất đều là
những trụ cột của gia tộc họ Lý ở đất Cổ Pháp, nơi có sứ quân Lý Lãng Công
người từng bị Đinh Tiên Hoàng đánh bại, trừ diệt. Nhưng vốn là một gia tộc mạnh
mẽ và đầy uy vọng suốt mấy trăm năm, họ Lý không dễ gì chịu tru diệt chỉ sau 2
đời Đinh, Tiền Lê ngắn ngủi.
Họ đã chọn một cách sinh tồn hết sức khôn
ngoan, rút vào bí mật, phân tán lực lượng, thay tên đổi họ, vào tu hành
trong chùa để tích tụ lực lượng chờ đợi thời cơ. Thời ấy, nhà chùa là một thế
lực lớn cả về kinh tế và chính trị trên khắp cả nước. Các tăng lữ có tiềm năng
hùng hậu về nhân tài, kỹ năng cũng như sự ảnh hưởng trong quần chúng. Nước cờ
này là chiến lược vô cùng cao minh của các trưởng giả Lý tộc.
Các gia tộc lớn thời phong kiến rất coi trọng
việc tuyển chọn người kế thừa, chỉ cần người kế thừa mà thành công, lập thành
sự nghiệp thì có thể đảm bảo vinh quang ấm no cho cả dòng họ trong nhiều thế hệ.
Vậy nên mỗi một thế hệ đều sẽ chọn ra những
hậu duệ ưu tú nhất về đủ các yếu tố như huyết thống, thể chất và cả bát tự số
mệnh, rồi dốc hết tiền của, sức lực cả dòng họ vào để đào tạo người đó thành
tài. Đó cũng chính là một canh bạc lớn của các gia tộc trong mỗi thế hệ vậy.
Lý tộc cũng như vậy, họ đã đào tạo ra Lý Lãng
Công nhưng không may mất đi trong chiến trận vì thiên thời chưa đến. Vì thế mọi
chuyện phải bắt đầu lại từ đầu. Trong bối cảnh ấy, Lý Công Uẩn chính là người
được chọn, được đưa đến chùa Lục Tổ để Lý Khánh Văn và Lý Vạn Hạnh nuôi dưỡng,
đào tạo.
Sự kiên nhẫn và bài bản của họ đã có kết quả.
Lý Công Uẩn lớn lên ngày càng tỏ rõ phong cách của một nhà lãnh đạo lớn, nhân
hậu và lo cho dân cho nước. Sử sách còn chép lại một giai thoại đáng yêu nói
lên cái tâm của ông với dân với nước như sau:
Ngày ấy, khi được gửi sang chùa Tiêu Sơn của
thiền sư Vạn Hạnh (anh trai Lý Khánh Văn) để học văn học và tài kinh luân binh
pháp, võ thuật của thầy, Lý Công Uẩn luôn tỏ rõ sự thông minh và nghịch ngợm
của mình trong mọi hoàn cảnh. Có lần do nghịch quá mà bị sư phụ trói cả đêm ở
ngoài tam quan chùa. Bị muỗi đốt cả đêm không ngủ được, cậu vẫn tức cảnh làm
thơ:
“Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên
Dạ thâm bất cảm trường thân túc
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên”
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên
Dạ thâm bất cảm trường thân túc
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên”
Tạm dịch:
Trời làm màn gối, đất làm chiên
Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên
Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà, xã tắc nghiêng
Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên
Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà, xã tắc nghiêng
Nghe xong câu thơ này, nhà sư Vạn Hạnh biết
cậu có khí chất đế vương nên càng ra sức dạy dỗ và lo toan cho Công Uẩn làm nên
sự nghiệp lớn.
Chân dung nhà sư Vạn Hạnh. Ảnh dẫn theo
thuvienhoasen.org
Dời đô ra Đại La, mở đường cho dân tộc bay lên
– Thăng Long ngàn năm văn hiến
Sau này, khi đã trở thành bậc quốc quân nắm
quyền thiên hạ, việc đầu tiên mà Lý Công Uẩn nghĩ tới chính là dời đô từ đất
Hoa Lư (Ninh Bình) nhỏ hẹp tiến ra thành Đại La là nơi phong thủy vượng, khí
thiêng tụ. Sử chép khá cụ thể về việc này như sau:
“Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không
đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng:
Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương
ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy
đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu
muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời
đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.
Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi
thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi
đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật
không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ
của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa
nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng
phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng, tối tăm, muôn vật
hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là
chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời.
Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”.
Bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài
lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được
đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo”. Vua cả mừng. Mùa thu,
tháng 7, vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền
dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là
thành Thăng Long. Đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư gọi là
phủ Trường Yên, sông Bắc Giang gọi là sông Thiên Đức. Xuống chiếu phát tiền kho
2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức, tất cả 8 sở, đều dựng bia ghi
công”.
Lý Công Uẩn viết chiếu rời đô. Ảnh dẫn theo
flickr.com
Lý Công Uẩn đã đặt những viên gạch nền móng đầu
tiên cho Thăng Long, nơi đế đô nghìn năm của quân vương các đời sau. Ông cho
xây dựng cung điện, kho tàng, đắp thành, đào hào, mở 4 cửa, có ý định đô lâu
dài.
Theo thuyết phong thủy thiên mệnh thì đất long
mạch chân chính chỉ thuộc về chân mệnh thiên tử mà thôi, người khác có muốn
chiếm cũng không được. Bởi vì muốn kích hoạt được năng lượng tốt lành của nó
thì cần phải có một trường năng lượng thiện lành cực lớn tương ứng. Năng lượng
này chính là đến từ Đức, một thứ được tích tụ qua nhiều đời kiếp tu dưỡng, hành
thiện tích đức. Thế nên câu nói: “Sống không tích Đức, phong thủy
vô ích” chính là có ý này.
Lý Thái Tổ chính là chân mệnh thiên tử, đệ tử
đích truyền của Phật môn thì dĩ nhiên là tài năng và kiến thức của ông không hề
tầm thường. Ông không phải là loại người làm vua để cầu an, hưởng lạc hay tranh
giành quyền thế, mà chính là muốn dùng tài năng đức độ để giáo hóa muôn dân,
xây nên cơ nghiệp muôn đời hưng thịnh.
Khát vọng đó hơn ngàn năm qua hầu như chẳng
thể thấy được ở bất kỳ vị vua hay nhà lãnh đạo nào kể cả hùng tài đại lược như
Lê Đại Hành hay võ công cái thế như Đinh Tiên Hoàng, Ngô Vương Quyền. Phải đến
Lý Công Uẩn, với sự giáo dưỡng chu đáo cả văn tài lẫn võ lược, đạo đức chân
chính của vương giả từ đệ nhất thiền sư Vạn Hạnh mà khát vọng ấy mới dần trở
thành hiện thực.
Từ một Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp mà dời đô ra
Đại La, cái tên Thăng Long thấm đẫm hào khí và tầm nhìn cao xa của thánh nhân.
Tám chữ vàng “Trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân” nghe nhẹ
nhàng mà thể hiện ra một nhân cách vĩ đại nhường nào. Ở nơi Thăng Long (rồng
bay lên) xuất hiện một vị thiên tử có niên hiệu Thuận Thiên (theo lòng trời).
Đó quả thật là một việc tốt đẹp xưa nay chưa từng có ở nước ta kể từ sau thời
vua Hùng vậy.
(Còn nữa)
- Sưu tầm bài viết của tác giả Tĩnh Thủy, từ
trang https://www.dkn.tv-




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét