HIỂU LỊCH SỬ ĐỂ YÊU NƯỚC HƠN


Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, khai sáng nghìn năm hưng thịnh nước Nam (P.3): Văn võ oai hùng, uy chấn bốn phương

 

Một bậc thánh nhân cai trị thiên hạ không những ân đức tưới khắp quốc gia bởi lòng nhân nghĩa của mình mà còn dùng võ công để an định xã tắc, chấn nhiếp ngoại địch. Lý Thái Tổ chính là một ví dụ sinh động nhất về một thời đại hiếm có mà văn trị và võ đức đều đạt đến toàn thịnh. Quân đội Đại Việt thời Lý quả thực là một đạo quân hùng mạnh, thiện chiến, lập được những chiến công đầy hiển hách. 
Tranh phục dựng Đại Việt thời Lý. Ảnh dẫn theo lichsuvn.net
U Linh Thương, bài thương pháp bí truyền từ thiền phái Diệt Hỷ
Thân là đệ tử đích truyền của Phật môn, Lý Công Uẩn đã lãnh hội hết những tài năng siêu việt của Thiền Sư Vạn Hạnh, thiền phái Diệt Hỷ, một môn phái tu luyện bí truyền nghìn năm với nội ngoại kiêm tu (vừa luyện võ công, vừa tu nội thiền định). Nguồn gốc bài U Linh Thương pháp này cũng khá ly kỳ. 
Tương truyền rằng thời bấy giờ, các thế lực phản loạn nổi lên khắp nơi, dân chúng lầm than, khổ sở. Lý Công Uẩn nhiều phen đích thân đi dẹp loạn. Nhưng do địa hình đất nước núi rừng thâm u, tịch mịch, các trận chiến thường bố trí vào lúc chạng vạng nên với những bài thương thông thường, khả năng đánh tan quân phiến loạn rất thấp.
Bởi vậy, ông bèn sáng tạo ra bài thảo U Linh Thương, rồi tập cho binh lính. Điểm độc đáo của U Linh Thương là có tầm sát thương cao, đường thương đâm thẳng, trực diện với kình lực lớn, kết hợp các động tác uyển chuyển, nhu cương hòa điệu… thích hợp với lối đánh áp sát cận chiến, phù hợp với thể hình thấp bé của đa số binh sĩ triều Lý thời bấy giờ.  

U Linh Thương, bài thương pháp bí truyền từ thiền phái Diệt Hỷ. Ảnh minh họa dẫn theo vimbly.com
Những đạo quân bách chiến bách thắng khiến ngoại bang kinh sợ 
Bản lĩnh văn võ cao cường của nhà vua khai quốc này đã tạo nên một quân đội nhà Lý bách chiến bách thắng nổi danh trong lịch sử, mà chiến công sau là minh chứng rõ nét nhất. Sử chép: “Giáp Dần, [Thuận Thiên] năm thứ 5 [1014], mùa xuân, tháng giêng, tướng của người Man là Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí đem 20 vạn người Man vào cướp, đóng đồn ở bến Kim Hoa, dàn quân đóng trại gọi là trại Ngũ Hoa.
Châu mục châu Bình Lâm là Hoàng Ân Vinh đem việc tâu lên. Vua sai Dực Thánh Vương đem quân đi đánh, chém đầu kể hàng vạn, bắt sống được quân lính và ngựa không kể xiết. Xuống chiếu cho viên ngoại lang là Phùng Chân và Lý Thạc đem một trăm con ngựa bắt được của người Man sang biếu nhà Tống. Vua Tống xuống chiếu cho quan sở tại sai sứ thần đón tiếp, cùng đi đến cửa khuyết, mọi khoản cung đốn dọc đường đều được chu cấp đầy đủ. Khi đến, vua Tống gọi bọn Chân vào ra mắt ở điện Sùng Đức, ban cho mũ, đai, đồ dùng, tiền bạc theo thứ bậc khác nhau”.
Ngay khi nhà Lý vừa lập quốc, chắc chắn đã trở thành một cái gai trong mắt nhà Tống vốn đã từng coi nước ta như thuộc địa. Đoàn Kính Chí trong đoạn sử trên chính là đại tướng quân của nước Đại Lý họ Đoàn (nổi tiếng được thần thoại hóa trong truyên Kim Dung). Đây là một chư hầu khá mạnh của nhà Tống, được sự đồng ý ngầm của vua Tống mà dám đem 200.000 quân (đạo quân khổng lồ đủ để chiếm một quốc gia ) sang xâm lấn nước ta. 
Nhưng không may cho họ, tuy vừa lập quốc và rất nhân từ nhưng Lý Thái Tổ lại không phải là ông vua mềm yếu, thậm chí còn là vị quân vương dũng mãnh với võ công hạng nhất. Chỉ cần một người em trai ông (Dực Thánh Vương) mà cũng dẹp tan quân giặc thì có thế thấy sức mạnh quân đội nhà Lý đáng sợ như thế nào.

Tuy vừa mới lập quốc, nhưng quân đội nhà Lý bách chiến bách thắng. Ảnh dẫn theo pinterest.com

Nhưng có một chuyện rất đặc biệt là, mặc dù chiến thắng vang dội nhưng Lý Thái Tổ không hề kiêu ngạo mà lại đem 100 con ngựa bắt được dâng vua Tống. Đó là một cách thức ngoại giao khôn ngoan, vừa thể hiện hòa khí với nước lớn mà lại kín đáo phô diễn cái uy dũng của quân đội mình, răn đe bất kỳ cái đầu nóng nào muốn có ý đồ với Đại Việt. Quả thật là một biện pháp hoàn hảo để giữ vẹn bờ cõi vậy. Đây chính là cách mà Thánh nhân trị quốc theo nhân nghĩa, đúng với chuẩn tắc “Nhân giả vô địch”. 
Ngoài nhân nghĩa để nhiếp phục thiên hạ ra thì có một điểm nữa giúp Lý Thái Tổ có thể trở thành người khai vận quốc tộ lâu dài hơn 200 năm của nhà Lý. Đó chính là Thuận Thiên hành Đạo, cai trị thuận ý trời, không đi sang cực đoan và không làm điều bạo ngược.
Sử chép: “Nhâm Tý, [Thuận Thiên] năm thứ 3 [1012], vua thân đi đánh Diễn Châu. Khi về đến Vũng Biện gặp lúc trời đất tối sầm, gió sấm dữ dội, vua đốt hương khấn trời rằng: “Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh uy mà đi đánh dẹp càn bậy. Chỉ vì người Diễn Châu không theo giáo hóa, ngu bạo làm càn, tàn ngược chúng dân, tội ác chồng chất, đến nay không thể dung tha không đánh. Còn như trong khi đánh nhau, hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, dẫu gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Đến như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét”. Khấn xong, gió sấm đều yên lặng”.
Thân là Hoàng đế lãnh quân viễn chinh thì việc lạm sát chắc chắn sẽ không tránh khỏi nhưng có thể thành khẩn nhận lỗi của mình với Trời Đất để mong quân sĩ được bảo toàn thì cũng là hiếm thấy vậy. Chính vì lòng nhân đó, sự thành tâm đó mà Thái Tổ có được thiên hạ lâu dài mà truyền cho con cháu vậy. 


Chân dung phục dựng vua Lý Thái Tổ. Ảnh dẫn theo Ringring.vn

Sử thần Ngô Sĩ Liên có nhận xét rất hay như sau: “Vua Thang gặp tai nạn hạn hán, lấy sáu việc tự trách mình mà mưa xuống ngay. Nay vua gặp nạn gió sấm, lấy việc đánh dẹp tự trách mình mà gió bão ngừng ngay. Trời và người cảm ứng nhau rất nhỏ nhạy, ảnh hưởng rất chóng, ai bảo là trong chỗ tối tăm mặt trời không soi đến ta mà dám dối trời chăng?”. 
Lời kết
Khổng Tử có dạy: “Thành ý, chính tâm, tu thân, tề Gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Quả thật muốn làm nên đại nghiệp lưu danh thiên cổ (bình thiên hạ) thì đều phải bắt nguồn từ việc tu dưỡng bản thân của người lãnh đạo. Thành ý, chính tâm chỉ có thể đạt được khi tấm lòng nhân từ to lớn, lòng yêu thương, thương xót với dân chúng của bậc Thánh nhân thể hiện ra mà thôi. Nói Lý Thái Tổ là thánh nhân quả là không ngoa vậy. 
Đã hơn 1.000 năm trôi qua kể từ ngày Lý Công Uẩn lên ngôi nhưng tấm gương sáng của ông vẫn chiếu rọi đến hậu thế nghìn thu, công đức của ông vẫn còn thấm nhuần, lối sống đạo đức và tinh thần của ông hãy còn nguyên giá trị. Con người Lý Thái Tổ chính là thành quả hun đúc giáo dưỡng đến từ Phật Pháp. Chính Phật Pháp vô biên đã tạo ra một bậc vĩ nhân khai mở cho dân tộc một thời đại thịnh thế, bình trị đỉnh cao. 
Thành Thăng Long do một tay Lý Thái Tổ dựng nên cũng đã trải qua hơn 1.000 năm lịch sử đầy hào hùng. Ngôi thành cũ xưa nay chỉ còn là những phế tích. Nhưng tinh thần của bậc đế vương, của truyền thống dân tộc nghìn năm văn hiến kết tụ nơi mảnh đất linh thiêng thì hãy còn chảy mãi, chảy mãi…
(Hết)
- Sưu tầm bài viết của tác giả Tĩnh Thủy, từ trang https://www.dkn.tv- 

HIỂU LỊCH SỬ ĐỂ YÊU NƯỚC HƠN


Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, khai sáng nghìn năm hưng thịnh nước Nam (P.2): Theo Trời hành đạo, 

thương dân như con


Thuận Thiên thừa vận, được Thần Linh phù trợ
Sử cũ chép như sau: “Bính Thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 7 [1016] Mùa xuân, tháng 3, lại lập 3 hoàng hậu: Tá Quốc hoàng hậu, lập Nguyên hoàng hậu, lập Giáo hoàng hậu, độ cho hơn nghìn người ở kinh sư làm tăng đạo. Dựng hai chùa Thiên Quang, Thiên Đức và tô bốn pho tượng Thiên Đế. Động đất. Làm lễ tế vong các danh sơn. 
Vua nhân đi xem núi sông, đến bến đò Cổ Sở, thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ rưới rượu xuống đất, khấn rằng: “Trẫm xem địa phương này, núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ”. Đêm ấy, vua chiêm bao thấy có dị nhân đến cúi đầu lạy hai lạy, nói: “Thần là người làng này, họ Lý tên Phục man, làm tướng giúp Nam Đế, có tiếng là người trung liệt, được giao trông coi hai dải sông núi Đỗ Động và Đường Lâm, bọn Di Lão không dám xâm phạm biên giới, một phương yên bình. Đến khi chết, Thượng đế khen là trung trực, sắc cho giữ chức như cũ. Cho nên phàm giặc Man Di đến cướp đều chống giữ được cả. Nay may được bệ hạ thương đến, biết cho thần giữ chức này đã lâu rồi”. Rồi đó ung dung nói: “Thiên hạ khi mờ tối, trung thần giấu tính danh, giữa trời nhật nguyệt sáng, ai chẳng thấy dáng hình”.
Vua thức dậy nói việc ấy với các quan, có Ngự sử đại phu Lương Nhậm Văn tâu rằng: “Đó là ý thần muốn tạc tượng”. Vua sai bói xin âm dương, quả nhiên đúng như thế. Bèn sai người trong châu lập đền đắp tượng đúng như hình dạng người trong chiêm bao, tuế thời cúng tế.
Khoảng niên hiệu Nguyên Phong [1251-1258] đời Trần, người Thát Đát (Mông Cổ) vào cướp, đi đến địa phương này, ngựa khuỵu chân không đi được, người trong thôn dẫn dân chúng ra chống đánh, chém được đầu giặc, giặc chạy tan. Khoảng năm Trùng Hưng [1285-1293], [Thát Đát] lại vào cướp, đến đâu cũng đốt phá, mà ấp ấy vẫn như được che chở, không bị xâm phạm mảy may, quả đúng như lời thần nói)“. 
Thời đại của Lý Công Uẩn là thời Phật giáo cường thịnh, con người sống đạo đức chân chính và luôn giữ mình kính sợ Thần Phật nên quốc tộ dài lâu, đất nước thái bình. Cũng vì lẽ đó mà nhiều việc linh hiển hay Thần tích được ghi chép rất nhiều trong thời gian này cũng vì bản thân Lý Thái Tổ cũng là một vị vua nhân từ luôn ra sức hoằng dương Phật Pháp và luôn được Thần Phật phù trợ. 

Lý Thái Tổ cũng là một vị vua nhân từ luôn ra sức hoằng dương Phật Pháp và luôn được Thần Phật phù trợ. Ảnh dẫn theo tuyduyen.net

Vị Hoàng đế nhân từ thương dân như con
Người viết bài này khi xem lại hành trạng của Lý Thái Tổ thì luôn thấy rất cảm động, bởi lẽ chưa từng có vị vua nào giàu lòng thương người như ông. Có lẽ cội nguồn sâu xa nhất cho những công nghiệp hùng vĩ của vua Lý Thái Tổ, giúp ông trở thành một vị minh quân chính là lòng nhân của ông vậy. Lời xưa có nói: “Người nhân thì không có đối thủ” (Nhân giả vô địch) quả thật chẳng sai. 
Lý Thái Tổ luôn yêu thương trăm họ, chăm sóc trẻ em góa phụ, người già, miễn thuế cho dân nghèo. Sử chép: “Canh Tuất, Thuận Thiên năm thứ 1 [1010], mùa xuân, tháng 2 xa giá về châu Cổ Pháp, ban tiền lụa cho các bô lão trong làng theo thứ bậc khác nhau. Xuống chiếu truyền cho những kẻ trốn tránh phải về quê cũ. Lại hạ lệnh cho các hương ấp, nơi nào có chùa quán đã đổ nát đều phải sửa chữa lại. 
Mùa đông, tháng 12, cung Thúy Hoa làm xong, làm lễ khánh thành, đại xá các thuế khóa cho thiên hạ trong 3 năm, những người mồ côi, góa chồng, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều tha cho cả. Cấp áo quần, lương thực, thuốc men cho 28 người lính man bị Ngọa Triều bắt, sai người đưa về quê cũ. Tha cho người ở vùng Nam Giới, huyện Thạch Hà thuộc châu Hoan được trở về bản huyện. Đổi 10 đạo làm 24 lộ, châu Hoan, châu Ái làm trại. Năm ấy độ dân làm sư. Phát bạc ở kho 1.680 lạng để đúc chuông lớn, treo ở chùa Đại Giáo”.
Lý Thái Tổ đại xá thuế, phát tiền đúc chuông lớn. Ảnh minh họa dẫn theo dongphuockieu.vn
Vua mới lên ngôi, trong thì tu sửa thành lũy, dựng kinh đô mới, ngoài thì sửa lại chùa chiền, tôn kính Phật Pháp. Trăm sự vạn sự đều cần tiền chi dụng, thời gian sức lực đều bận rộn. Vậy mà Lý Thái Tổ vẫn khẳng khái đại xá thuế cho thiên hạ 3 năm và bỏ hết thuế nợ cho những người già cả côi cút. Ân uy khắp cả trời đất, không quên đến cả những tù binh chiến tranh và dân phiêu bạt tứ xứ. Thế mới thực là một bậc Thiên tử con trời, thánh nhân chân chính, sinh ra chính là để làm lợi cho thiên hạ. Chưa dừng ở đó, chỉ 4 năm sau, nhà vua lại tha thuế tiếp cho bá tánh thêm 3 năm nữa. Đây có lẽ là vị Thiên tử có… thu nhập ít nhất trong lịch sử vậy. 
Sử chép: “Bính Thìn, [Thuận Thiên] năm thứ 7 [1016], năm ấy được mùa to, 30 bó lúa giá 70 tiền. Cho thiên hạ 3 năm không phải nộp tô thuế”. Và ngay trong 2 năm tiếp theo, Lý Thái Tổ tiếp tục tha thêm thuế ruộng cho lê dân, quả thật là điều không tưởng. Trong lịch sử, có lẽ triều đại của ông chính là triều đại tha thuế, ban ân sủng cho khắp thiên hạ nhiều đến vậy. Đinh Tỵ, [Thuận Thiên] năm thứ 8 [1017], xuống chiếu xá tô ruộng cho thiên hạ. Mậu Ngọ, [Thuận Thiên] năm thứ 9 [1018] Xá một nửa tô ruộng cho thiên hạ”.
Sử chép: “Tân Dậu, [Thuận Thiên] năm thứ 12 [1021]. Mùa xuân, tháng 2, lấy ngày sinh nhật của vua làm tiết Thiên Thành, lấy tre kết làm một ngọn núi gọi là Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm nhiều hình chim bay thú chạy, muôn vẻ lạ kỳ. Lại sai người bắt chước tiếng của cầm thú làm vui để ban yến cho bề tôi. Nhâm Tuất, [Thuận Thiên] năm thứ 13 [1022], vua thấy tiết Thiên Thành làm núi giả khó nhọc cho dân, bãi đi, chỉ đặt yến lễ mà thôi
Ngày sinh nhật Hoàng đế chính là ngày trọng đại nhất của cả quốc gia. Đối với vị vua khai sáng ra cả một nền thịnh trị như Lý Thái Tổ thì hoàn toàn xứng đáng hưởng thụ một nghi thức tiệc sinh nhật hoành tráng nhất. Thế nhưng ông đã không làm như vậy. Điều ông nghĩ đến trước tiên chính là sự khó nhọc của dân chúng. Làm Thiên tử chính là “chăn dân”, lo cho muôn dân được yên ấm, hạnh phúc. Bậc minh quân nào cũng không phí hoài sức dân, nhọc lòng thiên hạ chỉ để phục vụ những lợi ích nhỏ nhoi của cá nhân mình. 
(Còn nữa)
- Sưu tầm bài viết của tác giả Tĩnh Thủy, từ trang https://www.dkn.tv- 

 



HIỂU LỊCH SỬ ĐỂ YÊU NƯỚC HƠN


 Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, khai sáng nghìn năm hưng thịnh nước Nam (P.1)



Có bài thơ rằng: 
“Sông Đằng một dải dài ghê
Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông
Những người bất nghĩa tiêu vong
Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh”
(Bạch Đằng Giang Phú – Trương Hán Siêu) 

Lịch sử như dòng sông dài cuốn đi trong lớp sóng của nó bao nhiêu sự tích, chiến công, thành bại của cả một dân tộc. Thế kỷ 21 hiện đại với quá nhiều thú vui và dục vọng, mấy ai còn lưu tâm đến những huy hoàng của quá khứ, những tinh hoa của cổ nhân hay những bài học sâu sắc từ ngàn xưa? 
Việt Nam 4.000 năm văn hiến với nhiều triều đại kiệt xuất thấm đẫm văn hóa Phật Đạo Thần đã đem đến cho dải đất xinh đẹp này biết bao nhiêu kỳ tích và truyền kỳ vẫn còn rọi sáng đến tận hôm nay. Chúng tôi tiến hành loạt bài viết về lịch sử Việt Nam mong muốn đem đến cho quý độc giả một góc nhìn mới về sử Việt, chính là ôn cũ biết mới, ngẫm chuyện xưa nhìn chuyện nay, tự đúc rút cho mình những trải nghiệm riêng. 
·                     Chuyên đề “Lịch sử Việt Nam”
Lý Công Uẩn là vị hoàng đế của triều đại chính thống lâu dài đầu tiên của nước Đại Việt thống nhất. Ông xuất thân từ cửa chùa, là người khai vận cho triều Lý, được lịch sử nhắc đến như một vị minh quân đáng kính, tràn đầy lòng nhân từ. Cuộc đời ông ẩn chứa đầy màu sắc huyền bí, thú vị. Hãy cùng chúng tôi lần giở lại trang sử cũ về vị hoàng đế đặc biệt này. 
Chân mệnh Thiên tử từ cửa Phật 
Vận mệnh của Lý Thái Tổ gắn liền với nhà Phật. Khi mới 3 tuổi, ông đã được mẹ ruột của mình đem lên chùa cho các nhà sư nuôi dưỡng. Sử chép như sau: “Vua sinh ra mới 3 tuổi, mẹ ẵm đến nhà Lý Khánh Văn. Khánh Văn bèn nhận làm con nuôi. Bé đã thông minh, vẻ người tuấn tú khác thường. Lúc còn nhỏ đi học, nhà sư ở chùa Lục Tổ là Vạn Hạnh thấy, khen rằng: “Đứa bé này không phải người thường, sau này lớn lên ắt có thể giải nguy gỡ rối, làm bậc minh chủ trong thiên hạ”. 
Lớn lên, không chăm việc sản nghiệp, chỉ học kinh sử qua loa, khảng khái có chí lớn. Trong đời Ứng Thiên, xuất thân thờ Lê Trung Tông. Đại Hành băng, Trung Tông bị giết, vua ôm xác mà khóc, Ngọa Triều khen là người trung, cho làm Tứ sương quân phó chỉ huy sứ, thăng đến chức Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Đến khi Ngọa Triều băng, bèn lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Thuận Thiên, đại xá thiên hạ”.
Đoạn sử trên chỉ cho thấy một điều nổi bật là Lý Công Uẩn xuất thân từ cửa chùa và là con nuôi của nhà sư. Còn lại thân thế của ông chỉ được nhắc qua một cách sơ sài. Đó là một thiếu sót và cũng chính là một bí ẩn của của sử sách. Thời của Lý Công Uẩn chính là thời Phật giáo thịnh hành. Những thiền sư nổi tiếng khi ấy cũng chính là hiện thân của trí tuệ uyên thâm và tài năng văn võ trác tuyệt.


Lý Công Uẩn xuất thân từ cửa chùa và là con nuôi của nhà sư. Ảnh minh họa dẫn theo wiki.youvivu.com
Bởi vậy việc mẹ Lý Công Uẩn đem con lên chùa nuôi chưa hẳn là do bà không nuôi nổi, mà chính là một sự sắp đặt của dòng họ Lý để đào tạo một cách có chủ ý cho Lý Công Uẩn ngay từ thuở nhỏ. Vì sao mẹ của Lý Công Uẩn không đưa ông lên chùa nào khác mà lại chọn ngôi chùa của Lý Khánh Văn, nơi có thiền sư Vạn Hạnh nổi tiếng, sau này đã trở thành sư phụ của ông?
Cả Lý Khánh Văn và Vạn Hạnh thực chất đều là những trụ cột của gia tộc họ Lý ở đất Cổ Pháp, nơi có sứ quân Lý Lãng Công người từng bị Đinh Tiên Hoàng đánh bại, trừ diệt. Nhưng vốn là một gia tộc mạnh mẽ và đầy uy vọng suốt mấy trăm năm, họ Lý không dễ gì chịu tru diệt chỉ sau 2 đời Đinh, Tiền Lê ngắn ngủi.
Họ đã chọn một cách sinh tồn hết sức khôn ngoan, rút vào bí mật, phân tán lực lượng, thay tên đổi họ, vào tu hành trong chùa để tích tụ lực lượng chờ đợi thời cơ. Thời ấy, nhà chùa là một thế lực lớn cả về kinh tế và chính trị trên khắp cả nước. Các tăng lữ có tiềm năng hùng hậu về nhân tài, kỹ năng cũng như sự ảnh hưởng trong quần chúng. Nước cờ này là chiến lược vô cùng cao minh của các trưởng giả Lý tộc.
Các gia tộc lớn thời phong kiến rất coi trọng việc tuyển chọn người kế thừa, chỉ cần người kế thừa mà thành công, lập thành sự nghiệp thì có thể đảm bảo vinh quang ấm no cho cả dòng họ trong nhiều thế hệ.
Vậy nên mỗi một thế hệ đều sẽ chọn ra những hậu duệ ưu tú nhất về đủ các yếu tố như huyết thống, thể chất và cả bát tự số mệnh, rồi dốc hết tiền của, sức lực cả dòng họ vào để đào tạo người đó thành tài. Đó cũng chính là một canh bạc lớn của các gia tộc trong mỗi thế hệ vậy.
Lý tộc cũng như vậy, họ đã đào tạo ra Lý Lãng Công nhưng không may mất đi trong chiến trận vì thiên thời chưa đến. Vì thế mọi chuyện phải bắt đầu lại từ đầu. Trong bối cảnh ấy, Lý Công Uẩn chính là người được chọn, được đưa đến chùa Lục Tổ để Lý Khánh Văn và Lý Vạn Hạnh nuôi dưỡng, đào tạo.
Sự kiên nhẫn và bài bản của họ đã có kết quả. Lý Công Uẩn lớn lên ngày càng tỏ rõ phong cách của một nhà lãnh đạo lớn, nhân hậu và lo cho dân cho nước. Sử sách còn chép lại một giai thoại đáng yêu nói lên cái tâm của ông với dân với nước như sau:
Ngày ấy, khi được gửi sang chùa Tiêu Sơn của thiền sư Vạn Hạnh (anh trai Lý Khánh Văn) để học văn học và tài kinh luân binh pháp, võ thuật của thầy, Lý Công Uẩn luôn tỏ rõ sự thông minh và nghịch ngợm của mình trong mọi hoàn cảnh. Có lần do nghịch quá mà bị sư phụ trói cả đêm ở ngoài tam quan chùa. Bị muỗi đốt cả đêm không ngủ được, cậu vẫn tức cảnh làm thơ:
“Thiên vi khâm chẩm, địa vi chiên
Nhật nguyệt đồng song đối ngã miên
Dạ thâm bất cảm trường thân túc
Chỉ khủng sơn hà xã tắc điên”
Tạm dịch:
Trời làm màn gối, đất làm chiên
Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên
Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi
Chỉ sợ sơn hà, xã tắc nghiêng
Nghe xong câu thơ này, nhà sư Vạn Hạnh biết cậu có khí chất đế vương nên càng ra sức dạy dỗ và lo toan cho Công Uẩn làm nên sự nghiệp lớn.

Chân dung nhà sư Vạn Hạnh. Ảnh dẫn theo thuvienhoasen.org

Dời đô ra Đại La, mở đường cho dân tộc bay lên – Thăng Long ngàn năm văn hiến
Sau này, khi đã trở thành bậc quốc quân nắm quyền thiên hạ, việc đầu tiên mà Lý Công Uẩn nghĩ tới chính là dời đô từ đất Hoa Lư (Ninh Bình) nhỏ hẹp tiến ra thành Đại La là nơi phong thủy vượng, khí thiêng tụ. Sử chép khá cụ thể về việc này như sau:
“Vua thấy thành Hoa Lư ẩm thấp chật hẹp, không đủ làm chỗ ở của đế vương, muốn dời đi nơi khác, tự tay viết chiếu truyền rằng: Ngày xưa, nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến Thành Vương ba lần dời đô, há phải các vua thời Tam Đại ấy theo ý riêng tự dời đô xằng bậy đâu. Làm như thế cốt để mưu nghiệp lớn, chọn ở chỗ giữa, làm kế cho con cháu muôn vạn đời, trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu có chỗ tiện thì dời đổi, cho nên vận nước lâu dài, phong tục giàu thịnh.
Thế mà hai nhà Đinh, Lê lại theo ý riêng, coi thường mệnh trời, không noi theo việc cũ Thương Chu, cứ chịu yên đóng đô nơi đây, đến nỗi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ tổn hao, muôn vật không hợp. Trẫm rất đau đớn, không thể không dời. Huống chi thành Đại La, đô cũ của Cao Vương, ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng cuộn hổ ngồi, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng, tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời. Trẫm muốn nhân địa lợi ấy mà định nơi ở, các khanh nghĩ thế nào?”. 
Bề tôi đều nói: “Bệ hạ vì thiên hạ lập kế dài lâu, trên cho nghiệp đế được thịnh vượng lớn lao, dưới cho dân chúng được đông đúc giàu có, điều lợi như thế, ai dám không theo”. Vua cả mừng. Mùa thu, tháng 7, vua từ thành Hoa Lư, dời đô ra kinh phủ ở thành Đại La, tạm đỗ thuyền dưới thành, có rồng vàng hiện lên ở thuyền ngự, nhân đó đổi tên thành gọi là thành Thăng Long. Đổi châu Cổ Pháp gọi là phủ Thiên Đức, thành Hoa Lư gọi là phủ Trường Yên, sông Bắc Giang gọi là sông Thiên Đức. Xuống chiếu phát tiền kho 2 vạn quan, thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức, tất cả 8 sở, đều dựng bia ghi công”.

Lý Công Uẩn viết chiếu rời đô. Ảnh dẫn theo flickr.com

Lý Công Uẩn đã đặt những viên gạch nền móng đầu tiên cho Thăng Long, nơi đế đô nghìn năm của quân vương các đời sau. Ông cho xây dựng cung điện, kho tàng, đắp thành, đào hào, mở 4 cửa, có ý định đô lâu dài.
Theo thuyết phong thủy thiên mệnh thì đất long mạch chân chính chỉ thuộc về chân mệnh thiên tử mà thôi, người khác có muốn chiếm cũng không được. Bởi vì muốn kích hoạt được năng lượng tốt lành của nó thì cần phải có một trường năng lượng thiện lành cực lớn tương ứng. Năng lượng này chính là đến từ Đức, một thứ được tích tụ qua nhiều đời kiếp tu dưỡng, hành thiện tích đức. Thế nên câu nói: “Sống không tích Đức, phong thủy vô ích” chính là có ý này.
Lý Thái Tổ chính là chân mệnh thiên tử, đệ tử đích truyền của Phật môn thì dĩ nhiên là tài năng và kiến thức của ông không hề tầm thường. Ông không phải là loại người làm vua để cầu an, hưởng lạc hay tranh giành quyền thế, mà chính là muốn dùng tài năng đức độ để giáo hóa muôn dân, xây nên cơ nghiệp muôn đời hưng thịnh.
Khát vọng đó hơn ngàn năm qua hầu như chẳng thể thấy được ở bất kỳ vị vua hay nhà lãnh đạo nào kể cả hùng tài đại lược như Lê Đại Hành hay võ công cái thế như Đinh Tiên Hoàng, Ngô Vương Quyền. Phải đến Lý Công Uẩn, với sự giáo dưỡng chu đáo cả văn tài lẫn võ lược, đạo đức chân chính của vương giả từ đệ nhất thiền sư Vạn Hạnh mà khát vọng ấy mới dần trở thành hiện thực.
Từ một Hoa Lư ẩm thấp, chật hẹp mà dời đô ra Đại La, cái tên Thăng Long thấm đẫm hào khí và tầm nhìn cao xa của thánh nhân. Tám chữ vàng “Trên kính mệnh trời, dưới theo ý dân” nghe nhẹ nhàng mà thể hiện ra một nhân cách vĩ đại nhường nào. Ở nơi Thăng Long (rồng bay lên) xuất hiện một vị thiên tử có niên hiệu Thuận Thiên (theo lòng trời). Đó quả thật là một việc tốt đẹp xưa nay chưa từng có ở nước ta kể từ sau thời vua Hùng vậy.
(Còn nữa) 
- Sưu tầm bài viết của tác giả Tĩnh Thủy, từ trang https://www.dkn.tv- 

HIỂU ĐỂ YÊU NƯỚC HƠN


 Hồ Chí Minh và văn bản quốc tế đầu tiên công nhận 
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Văn bản đó chính là Hiệp định sơ bộ 6/3/1946.
Với thời gian hơn nửa thế kỷ, qua tài liệu được giải mật, qua hồi ký của những người trực tiếp tham gia, qua các công trình nghiên cứu lịch sử và chính trị của Việt Nam, Pháp, Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc…, chúng ta có thể thấy ở Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 những nội dung và giá trị mới.

Một cuộc mít tinh tại Hà Nội năm 1945. (Ảnh tư liệu) 
Cách mạng tháng Tám năm 1945 và Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không được một nước nào công nhận. Các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa do Liên Xô dẫn đầu cũng không công nhận.
Đến thời điểm thực dân Pháp trở lại xâm lược Việt Nam (1946) cùng với Trung Hoa tìm cách tiêu diệt nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, thì ông Phó Thủ tướng nước Pháp (một lãnh đạo đảng Cộng sản Pháp, bạn của Hồ Chí Minh, cùng Hồ Chí Minh thành lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1923) là Maurice Thorez đã dõng dạc tuyên bố: “Quốc kỳ của chúng ta là trên hết! Vậy nếu cần đánh cứ đánh, nện cho nặng vào”1. Hồ Chí Minh cũng đã 6 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ, gửi thư cho Liên Hợp Quốc (Anh, Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc – trừ Pháp) nhưng không đâu trả lời. Thực dân Pháp sau khi cùng quân đội các nước Đồng Minh chiến thắng Phát xít đã có chủ trương trở lại xâm lược Việt Nam. Tướng De Gaulle đã quên mất thân phận của người dân mất nước, làm nô lệ cho phát xít Đức đã trở lại bản chất của một kẻ xâm lược. Ông ta đã vạch sẵn kế hoạch và thực hiện tái chiếm Đông Dương.Đó là Tuyên ngôn 24/3/1945. Đến chuyến đi Mỹ của De Gaulle, ông ta cụ thể hóa Tuyên ngôn này với Tổng thống Mỹ và tuyên bố “Sẽ thiết lập chế độ mới ở Đông Dương. Chính phủ mới Đông Dương gồm cả người bản xứ (5 quốc gia Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ (Việt Nam), Miên và Lào do người Pháp cầm quyền với một nghị viện và một nền kinh tế tự do. Điều này cắt nghĩa cho việc vì sao thực dân Pháp từ đầu đến cuối luôn luôn ngoan cố và cuộc chiến tranh Pháp – Việt là không thể tránh khỏi. Thời gian đó cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 đã nổ ra.
Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo nhân dân ta gấp rút, chạy đua với thời gian thành lập Chính phủ. Và việc đầu tiên là bầu cử Quốc hội để bảo đảm tính hợp pháp của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Miền Nam đang nỗ lực ngăn chặn cuộc tiến công của thực dân Pháp. Miền Bắc, quân đội Trùng Khánh gây áp lực tối đa. Lực lượng Việt Quốc – Việt Cách ra sức chống phá Cách mạng đến cùng.
Thực dân Pháp và chính quyền Trùng Khánh biết uy tín của Việt Minh và Hồ Chí Minh rất lớn trong nhân dân Việt Nam. Bầu cử tự do, công khai thì chắc chắn Việt Minh sẽ thắng. Quốc hội mới, thành lập chính phủ mới thì bọn tay sai của họ phải ra rìa. Vì vậy họ chủ trương ép buộc, thương lượng với Hồ Chí Minh phải có một chính phủ mà họ có những vị trí quan trọng trong đó; trước khi bầu cử họ ép buộc Hồ Chí Minh chấp nhận những thành viên là người của họ trong chính phủ mới.
Tuy vậy cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội đã được tổ chức vào ngày 6/1/1946. Hồ Chí Minh ứng cử tại Hà Nội. Người của “Đảng Quốc gia” (Lời Người tự nhận, chứ không phải là đảng viên Đảng cộng sản) đã trúng cử với số phiếu cao nhất (169.222 phiếu trên tổng số 172.765 cử tri đi bầu). Và như đã thỏa thuận trước ngày 19/12/1946, Quốc hội có 356 đại biểu thì dành cho Việt Cách và Việt Quốc 70 ghế.
Nước Việt Nam đã có Chính phủ Liên hiệp, có Quốc hội, đã chính danh, nhưng cuối tháng 2/1946 tình báo Pháp phát hiện ra chính quyền Trùng Khánh “đang có kế hoạch thay chính phủ của ông Hồ Chí Minh bằng lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam cách mạng đồng minh hội với sự tiếp tay của lực lượng Đại Việt thân Nhật. Mục đích của Trung Hoa là loại bỏ Hồ Chí Minh và thành lập một chính phủ không cộng sản”2. Hà Nội cuối năm 1945 đến đầu năm 1946 là hết sức căng thẳng. Nhiều lực lượng và phe phái chính trị có vũ trang cùng hoạt động, đe dọa nền độc lập non trẻ của chúng ta.
Hà Nội gần như do quân Trùng Khánh quản lý. Họ bố trí quân đội, cảnh sát, giành quyền cấp giấy phép đi lại cho xe cộ. Sau khi thành lập Chính phủ Liên hiệp, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, Võ Nguyên Giáp là Bộ trưởng Bộ Nội vụ nhưng đã bị quân Tưởng khám xét, bắt giữ cả ngày. Hàng đêm Hồ Chủ tịch phải thay đổi chỗ ở ngủ qua đêm khi ở nơi này khi ở nơi khác. Tài liệu giải mật cho biết cụ thể hơn: “Thời gian này thượng tướng Chu Phúc Thành, tư lệnh quân đoàn 53… Chu chống cộng và ủng hộ nhóm Nguyễn Hải Thần – Nguyễn Trường Tam – Vũ Hồng Khanh. Đầu tháng 12/1945, Chu từng tra vấn Hồ Chí Minh trọn một ngày”3.
Trước dư luận thế giới e dè với nhà nước Việt Nam bởi họ ngại và sợ chủ nghĩa cộng sản, để xoa dịu tình hình, Cụ Hồ đã tuyên bố giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Cụ tự nhận là “Đảng Quốc gia”, “ Đảng Việt Nam” để tránh sự nhòm ngó và xuyên tạc của các lực lượng chống phá cách mạng.
Trên cơ sở kết quả kỳ họp Quốc hội thứ nhất, ngày 2/3/1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập, sau khi đã thông qua danh sách 70 đại biểu của Việt Quốc và Việt Cách (không phải qua bầu cử), thay thế và kế tục Chính phủ liên hiệp lâm thời Việt Nam ngày 1/1/1946, với chỉ 3/12 thành viên là của Việt Minh (Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đặng Thai Mai, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến) còn tất cả là người của các đảng phái Việt Quốc, Việt Cách, Dân chủ và không đảng phái.
Vì sao có Hiệp định sơ bộ 6/3/1946
Hiệp định sơ bộ 6/3/1946 không phải là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề xuất mà nguyên nhân sâu xa là do nhu cầu của Pháp và chính quyền Trùng Khánh của Trung Hoa. Cụ Hồ là người tận dụng nhu cầu đó và với tài năng uyên bác và nghệ thuật ngoại giao tài tình của Người mà lái vấn đề có lợi nhất cho cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký hiệp định sơ bộ ngày 06-3-1946 với đại diện Pháp Sainteny. Ông Hoàng Minh Giám đọc bản hiệp định. (Ảnh tư liệu)

Dã tâm của Pháp
Pháp ráo riết thực hiện chủ trương và chiến lược tái chiếm Đông Dương bất chấp thực tế là đã có một nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa từ 2/9/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu, dân tộc Việt Nam đã là dân tộc tự do và độc lập.Để thực hiện mục đích tái lập Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, De Gaulle chọn D’Argenlieu một vị tướng khoác áo thầy tu đã phá giới được giữ vị trí Cao ủy và được đặc cách đề bạt lên Phó Đô đốc trước khi đi nhậm chức. Ông ta vừa hiếu chiến vừa ngoan cố, bất chấp dư luận nhân dân Pháp khi cố níu kéo quá khứ để thực hiện âm mưu của De Gaulle. Ông ta sang Đông Dương với thái độ tự tin “Sự hiện diện của tôi ở đây là nhằm thực hiện Tuyên ngôn ngày 24/3/1945” (báo cáo gửi de Gaulle ngày 18/11/1945). Sang Đông Dương một thời gian ngắn, D’Argenlieu gấp rút thiết lập Hội đồng Liên bang (Conseil Federal) tiền thân của Chính phủ Liên bang Đông Dương (gồm 3 kỳ của Việt Nam, Lào và Cao Miên).
Nhân dân Nam Bộ kiên quyết chống lại cuộc xâm lược của Pháp bằng súng đạn và lòng yêu nước. Cả nước “Nam tiến” ủng hộ đồng bào miền Nam. Quân Pháp sa lầy ở miền Nam. Ở miền Bắc, chính quyền của Cụ Hồ đang khẩn trương ổn định và chuẩn bị cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc, nếu chiến tranh xảy ra. Pháp không ra được miền Bắc. Trong khi đó hơn 5000 lính Pháp khi Nhật đảo chính (3/1945) chạy trốn sang Trung Quốc đang rất muốn an toàn tính mạng và kéo về Việt Nam.
Với chiêu bài quyền lợi kinh tế xí nghiệp, đồn điền, ngân hàng, mỏ than, đường sắt… của Pháp và cuộc sống của hàng nghìn kiều dân Pháp ở miền Bắc Việt Nam cần bảo vệ…, quân đội Pháp phải có mặt ở miền Bắc. Đó chỉ là lý do, đằng sau đó là dã tâm xâm lược nước ta như Tuyên ngôn 24/3/1945đã vạch sẵn: Tiêu diệt chính phủ Hồ Chí Minh. Pháp tìm mọi cách để kéo quân ra miền Bắc, tái chiếm toàn bộ nước Việt Nam.
Ngày 15/10/1945 Sainteny đã gặp Cụ Hồ để thương lượng về những xung đột và chiến sự đang nổ ra dữ dội với quân Pháp. Đầu tháng 12/1945, Cụ Hồ, ông Hoàng Minh Giám và Võ Nguyên Giáp đã gặp Sainteny, Salan, Pignon và Louis Caput.
Vấn đề cơ bản Cụ Hồ yêu cầu là chính phủ Pháp phải chấp nhận nguyện vọng độc lập của Việt Nam như Tuyên ngôn độc lập đã công bố ngày 2/9/1945. Cuộc thương lượng có kết quả nhất định. Bản dự thảo Hiệp ước có vấn đề công nhận nền độc lập của Việt Nam, và Việt Nam nhìn nhận quyền lợi chính đáng của Pháp tại viễn Đông và Thái Bình Dương, Việt Nam trong khuôn khổ Liên bang Đông Dương và khối Liên Hiệp Pháp4.
Hiệp ước chưa ký vì D’Argenlieu chờ kết quả bầu cử Quốc hội của Việt Nam xem Chính phủ của Cụ Hồ ra sao. Ngay lúc đó thiếu tá phi công Vĩnh San – cựu hoàng Duy Tân (1907-1916) chống Pháp bị bắt đi đày, đã tham gia chiến tranh thế giới thứ II trong quân đội Pháp. De Gaulle và D’Argenlieu âm mưu lợi dụng vua Duy Tân, đưa ông về Đông Dương để thực hiện âm mưu của chúng, thành lập một chính phủ, loại bỏ chính phủ của ông Hồ Chí Minh. Nhưng chưa kịp thực hiện thì máy bay của thiếu tá Vĩnh San bị rơi, ông bị chết. Thế là hai kẻ xâm lược ngoan cố này vứt bỏ mọi ý tưởng mà trở lại lập trường: Không độc lập gì cả mà chỉ tìm cách khuất phục nhân dân Việt Nam, phải đưa quân ra miền Bắc bằng mọi giá.


Một khoảnh khắc hòa bình hiếm hoi được ghi lại đầu năm 1946: Cảnh người dân Hà Nội tập trung tham gia lễ tưởng nhớ chiến thắng Đống Đa năm xưa của vua Quang Trung. (Nguồn: LSVN).

Nhu cầu của Trung Hoa 
Việc chính quyền Trùng Khánh của Tưởng Giới Thạch đưa quân vào miền Bắc Việt Nam lúc đầu không nằm trong chiến lược của họ. Họ ưu tiên các khu vực Trung Hoa lục địa, Triều Tiên, Mãn Châu và Đài Loan. Khi được Đồng minh ủy nhiệm vào Đông Dương tước vũ khí quân Nhật, thì họ coi như là cơ hội trời cho. Máu Đại Hán có tự ngàn xưa thôi thúc, họ cho đó là dịp may hiếm có, và trước hết – coi đây là chiến lợi phẩm. Họ tận dụng cơ hội và có chủ trương kịp thời để khai thác. Chính quyền Trùng Khánh đưa quân vào Việt Nam với mục đích rõ ràng: Tiêu diệt chính phủ Hồ Chí Minh, chiếm đóng lâu dài Việt Nam với một chính phủ do họ dựng nên mà lực lượng thì không thiếu. Việt Nam quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng chí Hội đã được họ nuôi dưỡng từ trước, có tổ chức, có lực lượng quân sự ngay từ năm 1942 trong kế hoạch “Hoa quân nhập Việt”.
Giải quyết vấn đề từ các Hiệp ước Pháp – Thanh để lại mà Trùng Khánh cho là bất bình đẳng, là quyền lợi to lớn trên 500km đường sắt do Pháp xây nối Lào Cai với Côn Minh (Trung Quốc) và giao thương với cảng Hải Phòng. Hàng năm Pháp thu lợi hàng chục triệu.
Quan trọng hơn cả là chính quyền Trùng Khánh chuẩn bị cơ sở vật chất và hậu phương to lớn, vững chắc ở phía Nam để đối đầu với Mao Trạch Đông trong việc tranh giành quyền lực sau chiến tranh “Quốc Cộng hợp tác” đang tan rã.
Vì vậy chính quyền Trùng Khánh đã đưa vào Đông Dương một số lượng quân lính khổng lồ, xấp xỉ 20 vạn để thu vũ khí của 16.000 quân Nhật. Ở Lào không có quân Nhật mà Trùng Khánh vẫn đưa vào cả sư đoàn quân Vân Nam trong đó có cả mục đích tiến qua đường Lai Châu để bóp chết chính phủ của Hồ Chí Minh ở Hà Nội.
Hơn nữa do lãnh thổ Trung Quốc to lớn, chính quyền cát cứ, các địa phương có nhiều mâu thuẫn với trung ương Trùng Khánh. Tưởng muốn dịp này “điệu hổ ly sơn”, phái các tướng cứng đầu cứng cổ kéo quân rời khỏi bản doanh để trị từng người một.
Một mặt ở thời điểm đó, Tưởng không lật đổ chính phủ của Hồ Chí Minh ngay, mượn lực lượng Việt Minh để kiềm chế các tướng Trung Hoa và kiềm chế Pháp với mục đích mặc cả với Pháp, kiếm thêm tiền. Nhưng mặt khác, họ lại không công nhận chính phủ hợp hiến, hợp pháp của Hồ Chí Minh.
…Công văn giao dịch của họ chỉ ghi là “Gửi tiên sinh Hồ Chí Minh” mà không bao giờ ghi chức danh “Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Họ lập đồn bốt cảnh sát quản lý việc đi lại của viên chức Việt Nam. Họ tự in và cấp giấy thông hành. Ngay đến Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Nội vụ, hay Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng bị chúng bắt giữ hàng giờ đồng hồ.
Long Vân rời khỏi Trung Quốc, vào Việt Nam chưa lâu thì bị Tưởng đánh úp. Các tướng khác thì ăn mảnh, trả thù cá nhân, buôn lậu…
Hồ Chí Minh đã lợi dụng tình trạng đó để khoét sâu mâu thuẫn giữa Pháp và Trung Hoa, giữa tướng lĩnh Trung Hoa ở Hà Nội và Trùng Khánh.
Khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương, có 5000 lính Pháp tháo chạy qua Vân Nam. Đây là quân bài mà Trùng Khánh vòi tiền của Pháp. Trùng Khánh đòi 95,8 triệu tiền Đông Dương mỗi tháng. Thanh toán xong mới cho trở lại Việt Nam qua ngả Mường La – Lai Châu. Pháp chỉ trả 25-27 triệu. Tháng 11/1945 hai bên ngả giá 60 triệu.
Những sự kiện cho ta thấy vì sao cả Pháp và Trung Hoa đều muốn có một Hiệp ước ở Việt Nam.
Pháp và Trung Hoa đã mặc cả với nhau sau lưng Chính phủ Cụ Hồ trong khi cả hai cùng hợp lực, thống nhất dồn Hồ Chí Minh vào đường cùng. Chúng hy vọng Hồ Chí Minh hết cách chống đỡ.
Hòa ước Trùng Khánh giữa Pháp và Trung Hoa đã được ký kết ngày 28/2/1946 giữa ngoại trưởng Vương Thế Kiệt và Meyrier.
Trong Hòa ước Pháp – Hoa này có điều khoản Trung Hoa sẽ rút hết quân khỏi Việt Nam từ ngày 15/3 đến 31/3 cho quân Pháp thay thế.
Nghĩa là việc Pháp thay thế quân Trung Hoa đã được quyết định. Chính phủ của Hồ Chí Minh bị đặt vào hoàn cảnh đã rồi.
Nhưng chính quyền Trùng Khánh vốn tham lam lại đang trong phe Đồng minh chiến thắng. Họ biết Pháp cần gấp rút vào chiếm miền Bắc Việt Nam trước ngày 2/9/1946 – ngày lá cờ tam tài đế quốc Pháp không còn bay trên Bắc Bộ phủ, nên kiếm cớ gây khó khăn cho Pháp. Ngày 1/3, khi Meyrier gặp đại diện Trùng Khánh để triển khai việc đổ bộ lên Hải Phòng ngày 5/3 và đổ bộ vào Hà Nội ngày 8/3 thì được trả lời là Hiệp ước phải được tướng Mỹ Mc Arthur (Tư lệnh Mỹ ở Thái Bình Dương) phê chuẩn. Và với lý do bảo đảm an toàn cho quân đội Trung Hoa khi rút về và quân Pháp đổ bộ mà trong thực tế quân đội của ông Hồ Chí Minh đang chiến đấu rất dũng mãnh nên Pháp phải được sự thỏa thuận của Việt Nam.
Thế là cơ hội ngàn vàng đã đến. Pháp phải liên hệ với Chính phủ Cụ Hồ bàn bạc và thỏa thuận. Và Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 đã ra đời như thế.Có thể nói, Hiệp ước này là sản phẩm của Trùng Khánh. Họ thu lợi nhiều, phục vụ cho mục đích của họ. Nhưng Cụ Hồ với sự tài ba, khéo léo đã giành được thắng lợi to lớn.
Ý nghĩa to lớn của Hiệp định sơ bộ 6/3/1946
Hiệp ước sơ bộ 6/3/1946 gồm hai phần: Hiệp định sơ bộ [Convention préliminaire] và Phụ ước [Accord Annexe] về quân sự.
Hiệp định sơ bộ đặt ra một số vấn đề lớn: Chính phủ Pháp nhìn nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do, có chính phủ, quốc hội, quân đội và tài chính, là một thành viên Liên bang Đông Dương, và Liên hiệp Phá. Chính phủ Việt Nam tuyên bố đón tiếp quân đội Pháp khi thay thế quân Trung Hoa trong khuôn khổ các hiệp định quốc tế; Các phe giao kết sẽ sử dụng mọi biện pháp cần thiết để ngưng chiến, giữ binh sĩ tại nguyên vị trí và tạo bầu không khí thuận lợi cần thiết để mở ngay những cuộc thảo luận thân hữu và ngay thẳng.
Trong Phụ ước [Accord Annexe] về quân sự, 10.000 quân Việt Nam và 15.000 quân Pháp sẽ giữ nhiệm vụ “tiếp phòng” [thay thế] 180.000 quân Trung Hoa.
Đây là văn kiện ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với đại diện Cộng hòa Pháp tại Đông Dương. Nó công nhận sự hiện hữu của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa trước thế giới. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một “nước tự do” có “Quốc hội, quân đội, tài chính và ngoại giao riêng”. Qua đây, vừa đuổi được 20 vạn quân Trung Hoa ra khỏi đất nước, vừa giữ được Nam bộ trong Tổ quốc Việt Nam, đánh tan âm mưu của thực dân Pháp thành lập “Nam Kỳ tự trị”, trực tiếp đánh bại âm mưu thành lập một “Liên bang Đông Dương thuộc Pháp”. Đồng thời, nó giúp ta giành được thời gian để tổ chức, củng cố lực lượng chính trị và quân sự để kháng chiến sau khi đã loại bỏ được các lực lượng đối lập và nhất là hiểm họa Trung Hoa.
Để thực hiện Hiệp ước này, chính phủ Pháp đã nhiều lần mời Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Paris. Người đã nhận lời và lá cờ đỏ sao vàng trên tàu thủy đi từ Hải Phòng sang Paris tung bay đi khắp thế giới, cho thấy có một quốc gia mới Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời, trong sự ngạc nhiên của thế giới§

(1), (4) Chính Đạo, Hiệp định sơ bộ 6/3946 – Bài mới, Hợp Lưu ngày 16/10/2011.
(2), (3) Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Tổng tập Hồi ký.NXB Quân đội Nhân dân, H. 2011.
(Sưu tầm bài viết của tác giả Lê Đình Cúc, từ trang http://vannghethainguyen.vn)


HIỂU LỊCH SỬ ĐỂ YÊU NƯỚC HƠN

Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, khai sáng nghìn năm hưng thịnh nước Nam (P.3): Văn võ oai hùng, uy chấn bốn phương   Một bậc thánh n...