Chiến tranh biên
giới - một cách nhìn khác từ phía Trung Quốc
Đến nay, ngày càng có
nhiều người Trung Quốc, nhất là các học giả và những người lính đã từng tham
gia cuộc chiến tranh năm ấy nhận rõ sự thực, dũng cảm nói lên những tiếng nói
phản bác lại những điều mà họ đã ngộ nhận, công bố và phân tích về những thực tế
phũ phàng của “cuộc chiến tranh vô nghĩa” trái đạo lý ấy.…
Đã 38 năm kể từ khi
Trung Quốc huy động một lực lượng lớn nhiều quân đoàn chủ lực với sự yểm trợ
của xe tăng, trọng pháo ồ ạt mở cuộc tiến công vào 6 tỉnh biên giới phía Bắc
nước ta ngày 17/2/1979. Luận điệu mà chính quyền Trung Quốc đưa ra khi đó là họ
tiến hành cái gọi là “Đối Việt tự vệ phản kích chiến” (Chiến tranh phản kích tự
vệ chống Việt Nam) là để đáp trả “những hành động khiêu khích chống Trung
Quốc”, “chi viện cuộc kháng chiến của nhân dân Campuchia”....Rằng họ đã giành
chiến thắng trong cuộc chiến tranh đó; rằng cuộc chiến “phản kích tự vệ” đó đã
đạt được mục đích đề ra”….
Tuy nhiên, đến nay,
ngày càng có nhiều người Trung Quốc, nhất là các học giả và những người lính đã
từng tham gia cuộc chiến tranh năm ấy nhận rõ sự thực, dũng cảm nói lên những
tiếng nói phản bác lại những điều mà họ đã ngộ nhận, công bố và phân tích về
những thực tế phũ phàng của “cuộc chiến tranh vô nghĩa” trái đạo lý ấy.…
Mục đích chiến tranh nhằm “vây
Ngụy cứu Triệu”?
Dưới đầu đề
“Nhìn lại cuộc Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam”, tác giả Thường
Thanh viết trên báo mạng “Botanwang.com” ngày 30/5/2013: “Chiến tranh phản kích
tự vệ chống Việt Nam” có lẽ là cuộc chiến khiến mọi người Trung Quốc hiểu biết
sự thật khó mở miệng nhất trong mọi cuộc chiến tranh với bên ngoài kể từ năm
1949…
Ngay khi đó đã
có rất nhiều người nghĩ khác (với chính quyền) về giá trị của cuộc chiến tranh ấy.
Lúc đầu, khi người ta nhìn thấy trên màn hình tivi hàng ngũ trùng điệp những
binh lính Trung Quốc tuổi 18-20 kéo ra tiền tuyến, không khỏi cảm thán. Ít lâu
sau lại thấy cảnh hàng vạn ngôi mộ liệt sĩ xếp hàng ngay ngắn trong các nghĩa
trang ở biên giới Tây Nam, sự đau xót khó nói thành lời. Một bạn học của tôi
nói: “Trung Quốc chết toàn những trang nam nhi đang tuổi thanh niên, còn phía
Việt Nam toàn dân làm lính, cả trẻ già, gái trai. Sự đánh đổi thật không tương
xứng”. Nhưng sự kinh dị còn ở phía sau: khi chiến tranh kết thúc chả ai biết,
cũng không có cảnh cả nước ăn mừng thắng lợi, chỉ biết nó đã kết thúc rồi…
Tôi nghĩ, sở dĩ
nó kết thúc mà khó mở miệng nói được là vì khó nói rõ ngọn ngành cho quốc dân về
tính chất của cuộc chiến tranh đó. Nói trắng ra, cái gọi là “Chiến tranh phản
kích tự vệ chống Việt Nam” thực tế là áp dụng kế “Vây Ngụy cứu Triệu” để giải cứu
quân đội Khmer Đỏ, Khmer Đỏ là học trò của Đại cách mạng Văn hóa vô sản Trung
Quốc, nhưng “Xanh hơn cả Xanh”, sự tàn bạo của họ đối với chính dân tộc mình đã
đạt đến đỉnh cao trong lịch sử loài người. Đảng Cộng sản Campuchia thành lập
năm 1950, sau được gọi là Khmer Đỏ. Họ chiếm PhNom Penh ngày 17/4/1975, dựng
nên nhà nước “Campuchia Dân chủ”, người lãnh đạo là Pol Pot đã áp dụng một
chính sách khủng bố, diệt chủng tàn bạo….
Theo tính toán bảo thủ
nhất, có khoảng 1,2 đến 3 triệu người Campuchia (CPC) bị chết dưới sự cai trị
của Khmer Đỏ, chiếm 1/4 dân số cả nước; trong đó có 215 ngàn người CPC gốc Hoa
và gần như toàn bộ 20 ngàn người CPC gốc Việt. Tháng 5/1978, nội bộ Khmer Đỏ
xảy ra phản loạn, những người nổi dậy do sư đoàn trưởng, Bí thư tỉnh ủy Heng
Somrin cầm đầu - nay là Chủ tịch danh dự CPP, Chủ tịch Quốc hội CPC - đã chạy
sang Việt Nam thành lập Mặt trận Dân tộc đoàn kết cứu nước CPC. Ngày
25/12/1978, dưới sự dẫn dắt của Heng Somrin, 100 ngàn quân tình nguyện Việt Nam
đã phát động tiến công CPC. Một trong những lý do để Việt Nam tiến công khi đó
là để cứu kiều dân nước họ. Nhân dân CPC khi đó không những không chống trả mà
còn dẫn đường cho quân đội Việt Nam. Như vậy là, chỉ mất có 2 tuần, vào ngày
7/1/1979, quân đội Việt Nam đã chiếm PhNom Penh, lật đổ ách thống trị tàn bạo
Khmer Đỏ; điều đó cho thấy rõ ràng chế độ Khmer Đỏ không được lòng nhân dân
nước họ.
Hơn một tháng sau,
Trung Quốc phát động “Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam”. Cái cớ xuất
quân của Trung Quốc khi đó không phải là đi CPC để cứu viện chế độ Khmer Đỏ đã
tàn sát và bức hại mấy chục vạn đồng bào người Hoa, mà là lấy cớ “Quân đội Việt
Nam khiêu khích biên giới Trung Quốc và xâm lược CPC’. Dĩ nhiên, người Trung
Quốc, trong đó có cả tôi (tác giả) khi đó đều không biết rốt cục Khmer Đỏ đã
làm những gì. Báo thù cho Khmer Đỏ thì mọi người Trung Quốc khi đó không rõ sự
thật đều chấp nhận, vì Khmer Đỏ là người anh em và chiến hữu của Trung
Quốc kia mà!
Nhưng điều khiến người Trung Quốc không hiểu được là
thái độ đối xử của người CPC đối với quân đội Việt Nam. Ngày 7/1/2009, hơn 40
ngàn người CPC tụ họp ở Sân vận động Olimpic quốc gia nhiệt liệt chào mừng kỷ
niệm 30 năm ngày thoát khỏi chế độ thống trị Khmer Đỏ. Thủ tướng Hun Sen và
nhiều nhà lãnh đạo, các đảng viên cũng tham dự. Chủ tịch Quốc hội Chea Seam
phát biểu: “Ngày kỷ niệm này đánh dấu sự kết thúc trang đen tối nhất trong lịch
sử CPC”. Ông Chea Seam đặc biệt cám ơn nước láng giềng Việt Nam đã cứu vớt CPC,
đánh giá cao sự hy sinh của quân đội Việt Nam để tiêu diệt chế độ tàn bạo Khmer
Đỏ, kịp thời ngăn chặn cuộc diệt chủng lớn hơn. Thì ra hiệu quả khách quan của
cuộc “xâm lược CPC” của quân đội Việt Nam lại là như thế.
Những lời cảm tạ Việt Nam của ông Chea Seam đã nói lên
một cách đầy đủ tính chất của cái gọi là “Chiến tranh phản kích tự vệ chống
Việt Nam”, khiến chúng ta nghi ngờ về tính chính nghĩa của nó. Trung Quốc hiện
đang ra sức lẩn tránh và không đề cập đến cuộc chiến tranh đó. Nhưng đối với
lịch sử, chúng ta cần phải có dũng khí nhìn thẳng vào sự thật.
Ngày 25/1/2006, báo “Tin tức tham khảo” đã cho đăng
trên trang 3 bài “Trình tự xét xử Khmer Đỏ sắp được khởi động”, viết: căn cứ
hiệp nghị ký giữa Liên Hợp quốc và chính phủ CPC, “cuối cùng đã có hy vọng áp
dụng biện pháp tư pháp nhất định đối với những kẻ đã gây nên cái chết cho mấy
triệu người CPC trong thời gian từ 1975 đến 1979”. Những kẻ lãnh đạo Khmer Đỏ
bị đưa ra xét xử sẽ phải đối mặt với những cáo buộc về tội ác chiến tranh, diệt
chủng và chống nhân loại để an ủi mấy triệu người CPC vô tội, trong đó có mấy
chục vạn Hoa kiều đã bị chúng tàn sát, bức hại đến chết.
Một người bạn từng tham gia cuộc “Chiến tranh phản
kích tự vệ chống Việt Nam” đã tranh luận với tôi (tác giả Thường Thanh), phê
phán tôi đừng nên vô lễ với “những anh hùng đã cống hiến cho tổ quốc”. Anh ta
nói “những chiến sĩ từ mặt trận của cuộc chiến tranh này trở về đều là những
anh hùng”, tôi không có ý kiến gì, nhưng cần hiểu như thế nào về tính chất cuộc
chiến tranh này? Cuộc chiến tranh khiến người Mỹ mất mặt nhất là Chiến tranh
Việt Nam hồi những năm 1970. Năm 2004, khi G.Bush con và John Kerry tranh cử
Tổng thống, ứng cử viên Đảng Dân chủ J.Kerry đã nói: “Chiến tranh Việt Nam là
cuộc chiến tranh vô nghĩa, nhưng chúng ta không thể nói những binh sĩ tham gia
cuộc chiến ấy không có cống hiến cho quốc gia”. Đó là một lời an ủi, có lẽ cũng
thích hợp với những tướng sĩ Trung Quốc đã tham gia “Chiến tranh phản kích tự
vệ chống Việt Nam” chăng?.
Lý do “chi viện nhân
dân Campuchia” cũng bị chính các học giả Trung Quốc phản bác. Tạp chí “Văn sử
tham khảo” của Trung Quốc số ra ngày 21/10/2011 đăng bài “Khmer Đỏ tắm máu
Campuchia: hơn triệu người bị chết bất bình thường” trong đó viết rõ: “Khi đó
lãnh tụ Khmer Đỏ Pol Pot sau khi thành lập chính quyền Campuchia Dân chủ, tự
xưng tin sung Tư tưởng Mao Trạch Đông, bắt đầu thực thi chính sách thanh lọc và
giết hại. Trong thời gian nắm quyền, Khmer Đỏ đã định từng bước cải tạo
Campuchia thành xã hội không có giai cấp, đuổi tất cả cư dân thành thị về vùng
nông thôn, thực hiện nền thống trị khủng bố và cuộc đại thanh lọc toàn quốc,
giết hại hai triệu dân thường. Hành động đó của Khmer Đỏ bị các nước trên thế
giới lên án; Việt Nam thì chỉ trích chính quyền Khner Đỏ tàn sát người Việt Nam
sống ở Campuchia nên mới đưa quân vào…”.
Mục đích ban đầu đặt ra
cho cuộc chiến không đạt được. “Tiểu đệ” của Trung Quốc – chính quyền
diệt chủng Khmer Đỏ Pol Pot – Ieng Sari vẫn bị quân đội Việt Nam đánh bại. Vấn
đề ở đây là, những người lính của Trung Quốc có đáng phải đổ máu vì một chính
quyền như thế hay không?
“Một cuộc chiến thảm bại”
Để tiến hành cuộc chiến
tranh 17/2/1979, Trung Quốc đã chuẩn bị kỹ lưỡng, huy động một lực lượng không
lồ gồm những quân đoàn chủ lực tinh nhuệ, được coi là thiện chiến nhất khi đó.
Theo tiết lộ chính thức trên báo chí gần đây thì việc tiến hành cái gọi là
“Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam” được quyết định tại Hội nghị Quân
ủy Trung ương ngày 7/12/1978 và “Mệnh lệnh triển khai chiến lược” được ban hành
vào ngày 8/12 nêu mục đích tiến hành chiến tranh là “để chi viện cuộc đấu tranh
chính nghĩa chống Việt Nam xâm lược của nhân dân Campuchia, trừng trị khí thế
phản động, kiềm chế hành động xâm lược của Việt Nam, giành hòa bình ổn định ở
biên giới nước ta”. Lúc đầu chỉ định sử dụng 6 quân đoàn chủ lực đánh sang một
số huyện lỵ biên giới Việt Nam; mục đích ban đầu được đặt ra “dùng 3-5 ngày
tiêu diệt 1-2 sư đoàn Việt Nam, đánh nhanh giải quyết nhanh, dập tắt sự hung
hăng của Việt Nam”.
Đến ngày 31/12/1978, Quân ủy Trung Quốc lại họp hội
nghị tác chiến, quyết định “mở rộng quy mô tác chiến, tăng thêm 3 quân đoàn,
mục tiêu tấn công cũng đổi từ huyện lỵ thành các tỉnh lỵ biên giới Việt Nam,
thời gian tiến hành từ 15-20 ngày, tiêu diệt 3 đến 5 sư đoàn Việt Nam, tăng
thêm mức độ trừng phạt”.
Theo Nhân dân Nhật báo, thực tế Trung Quốc đã huy động
29 sư đoàn bộ binh thuộc 9 quân đoàn chủ lực: cánh quân phía Quảng Tây do Tư
lệnh Quân khu Quảng Châu Hứa Thế Hữu chỉ huy gồm các quân đoàn 41, 42, 43, 54,
55 và 50 (thiếu sư 149); cánh phía Vân Nam do Dương Đắc Chí Tư lệnh Quân khu
Côn Minh chỉ huy (từ 26/2 thay bằng Phó Tư lệnh Trương Chất Tú), gồm các quân
đoàn 11, 13, 14 và sư 149/quân đoàn 50; cộng thêm 2 sư đoàn độc lập của 2 quân
khu, 2 sư đoàn pháo mặt đất, 3 sư đoàn pháo cao xạ, 2 sư đoàn bộ đội đường sắt,
2 trung đoàn thông tin, 2 trung đoàn hóa học; 13 sư đoàn cùng 3 trung đoàn độc
lập không quân…sẵn sàng đợi lệnh; chưa kể lực lượng biên phòng, dân binh; tổng
số quân tham chiến hơn 500 ngàn, số tràn qua biên giới là 202 ngàn. Ngày
12/2/1979, Quân ủy Trung Quốc ra “Mệnh lệnh tác chiến phản kích tự vệ biên giới
Trung-Việt, quyết định tấn công vào sáng 17/2. Sáng 17/2, Nhân dân Nhật báo
đăng bài “Không thể nhẫn chịu, thật không thể nhẫn chịu – báo cáo từ biên giới
Trung-Việt” công bố trước thế giới Trung Quốc đã tấn công Việt Nam.
Đài phát thanh Trung Quốc phát bài với luận điệu lừa
bịp về mục đích cuộc chiến tranh: “Chính quyền Việt Nam nhiều lần gây sự ở biên
giới, quấy nhiễu nghiêm trọng cuộc sống bình thường và hoạt động sản xuất của
dân biên Trung Quốc; Trung Quốc nhiều lần cảnh cáo, nhưng Việt Nam vẫn bỏ ngoài
tai, cứ làm theo ý mình. Trong tình thế không thể nhẫn chịu, Trung Quốc buộc
phải phát động cuộc chiến tranh phản kích tự vệ để trừng phạt Việt Nam”
(!).
Theo một tư liệu được
đăng tải trên mạng xã hội Weibo: cuộc chiến tranh này chỉ kéo dài 1 tháng
(Trung Quốc tính từ 17/2 đến 16/3/1979), nhưng tổng cộng đã tiêu hao mất 1,06
triệu quả đạn pháo, 23,8 ngàn tấn đạn, 55 triệu viên đạn nhọn, 268 xe quân sự
(48 xe tăng) bị phá hủy, hư hỏng; bị chết 8.531 người, bị thương hơn 23.000, bị
bắt làm tù binh 238, bình quân mỗi ngày có 1 trung đoàn bị loại khỏi vòng
chiến. (Sách “Tổng kết công tác tác chiến phản kích tự vệ chống Việt Nam” do
Cục Hậu cần Quân khu Côn Minh biên soạn, dù đã cố giảm thiểu thất bại cũng phải
thừa nhận: từ 17/2 đến 16/3/1979, phía Trung Quốc chết 6.954 người, bị thương
hơn 14.800).
Thương vong lớn ngoài
dự đoán là một trong những nguyên nhân khiến Trung Quốc phải kết thúc sớm cuộc
chiến. Trong 2 ngày đầu, Trung Quốc đã mất hơn 4000 quân, đến mức quân y không
kịp trở tay, nhiều người bị thương chết cho mất máu vì không được cấp cứu. Theo
tài liệu nội bộ của Trung Quốc mới được công bố: bước vào giai đoạn tác chiến
giằng co, tỷ lệ thương vong rất cao, thường là 90% đối với các đại đội xung
kích, những đại đội này khi rút quân chỉ còn hơn chục người sống sót, mỗi tiểu
đội chỉ còn 1-2 người.
“Trận chiến nhục nhã
nhất” – là nhan đề bài báo đăng trên mạng “Chiến lược” Trung Quốc
(Chinaiiss.com) ngày 12/11/2013. Bài báo kể lại sự kiện toàn bộ đại đội 8,
trung đoàn 448, sư đoàn 150, quân đoàn 50 đầu hàng tập thể khi bị quân đội Việt
Nam (thực ra là Tiểu đoàn tự vệ Khu Gang thép Thái Nguyên) bao vây, cô lập. Bài
báo cho rằng đây là vết nhơ, sự kiện ô nhục trong lịch sử quân đội Trung Quốc.
Sau khi được Việt Nam trao trả, những cán bộ, binh sĩ này đã bị trừng phạt
nghiêm khắc: tất cả đều bị kỷ luật, riêng đại đội trưởng Lý Hòa Bình và chính
trị viên Phùng Tăng Mẫn bị phạt tù “mức 10 năm trở lên”. Quân đoàn 50 cũng bị
thẳng tay trừng trị: 1 phó tư lệnh bị cách chức, 1 phó tư lệnh khác bị giáng
chức, 1 phó chính ủy bị cảnh cáo. Sau đó, vào năm 1985, quân đoàn 50 và sư đoàn
150 bị xóa phiên hiệu khỏi biên chế quân đội Trung Quốc.
Báo chí Trung Quốc cũng
vạch trần những thủ đoạn tuyên truyền dối trá của chỉ huy quân đội trong thời
kỳ chiến tranh. Ví dụ quân đoàn 42 đề nghị Quân ủy phong danh hiệu “Xe tăng anh
hùng” cho chiếc tăng cùng 4 lính của trung đoàn xe tăng được cho là “chiến đấu
ngoan cường, anh dũng hi sinh” khi đánh vào thị xã Cao Bằng, thậm chí Xưởng
phim Bát Nhất cũng vội làm một bộ phim thời sự tài liệu ca ngợi họ. Nào ngờ, ít
ngày sau thì một lính của chiếc tăng này bị bắt đã lên đài Việt Nam phát tiếng
Trung Quốc nhắn tin báo vẫn bình an. Vụ này khiến Tổng bộ Chính trị cảm thấy
mất mặt, phải ra công văn nghiêm khắc phê phán quân đoàn 42 và nhắc nhở các đơn
vị “phải chú ý cẩn trọng trong tuyên truyền sự tích anh hùng” (!).
“Một cuộc chiến tranh
vô nghĩa, kỳ quặc” - là tiêu đề bài báo của một cựu binh đăng trên báo điện tử
Thiết Huyết (Tiexue.net) ngày 18/7/2013. Tác giả viết: “Chiến tranh Triều Tiên
chúng ta đạt được lợi ích là kìm chế quân Mỹ ở phía Nam vĩ tuyến 38; Chiến
tranh Giải phóng, chúng ta giải phóng được Trung Quốc Đại lục. Tôi thực sự
không hiểu trong cuộc chiến tranh kỳ quặc năm 1979, rốt cục Trung Quốc đạt được
cái gì? Chả được gì cả!”.
“Một cuộc chiến tranh gây tranh
cãi”
Dưới tiêu đề “Chiến
tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam – một cuộc chiến tranh gây tranh cãi”,
mạng “Tianya.cn” ngày 6/4/2012 đã cho đăng bài của tác giả “Tây Hồ kiếm khách”.
Tác giả tự xưng là một cựu binh đã tham gia cuộc chiến tranh 17/2/1979 này
viết: “Chiến tranh phản kích tự vệ chống Việt Nam là một cuộc chiến có vấn đề
nghiêm trọng về cả hoạch định lẫn chỉ huy, cần phải nhìn nhận lại…Cuộc chiến đó
thương vong quá nhiều.
Quân đội ta (tức Trung Quốc) không thể hiện được ưu
thế về trang bị và chiến thuật; hệ thống hậu cần và tiếp tế hỗn loạn, thiếu sự
hiệp đồng giữa bộ binh – xe tăng và mặt đất - trên không, không quân và tên lửa
chiến lược không tham chiến; vũ khí nhẹ quân lính sử dụng quá cũ, không thực
hiện được áp chế hỏa lực…Sĩ quan chỉ huy chiến trường hầu như không biết tác
chiến hiệp đồng binh chủng, bộ thống soái cao nhất thì chiến lược hỗn loạn;
chiến tranh không đạt được mục đích “trừng phạt Việt Nam, phá hủy tiềm lực và
tài nguyên, sát thương quân chủ lực và chiến lược quân sự”, cũng không đạt mục
tiêu chiến lược chính trị “làm Việt Nam tan rã, giúp chính phủ mới thân Hoa lên
cầm quyền”.
Tuy nhiên mục tiêu
chính trị quan trọng trong nước là giải quyết vấn đề quyền chỉ huy quân đội thì
đã được giải quyết thuận lợi”. Sau trận chiến, Đặng Tiểu Bình đã thành công
trong việc giành lại quyền hành từ hệ thống đảng – chính – quân, Hoa Quốc Phong
bị ép phải xuống đài. Nhưng từ đây, cuộc chiến tranh biên giới kéo dài 10 năm lại
sẽ mở màn, biên giới Việt– Trung lại trở thành thao trường luyện binh, các quân
đoàn chủ lực lần lượt ra luân chiến. Trên thế giới có bao nhiêu quốc gia lại sử
dụng chiến tranh làm thao trường? Đó không phải là một trò đùa hay sao?
Tác giả nêu lên “11 vấn
đề bên trong cuộc chiến tranh cần được làm sáng tỏ”. Trong đó có một số vấn đề
qua trọng sau:
“1. Về nguyên nhân gây
chiến tranh, đến nay vẫn chưa được giải thích công khai, chính thức và khiến
người ta tin phục. Thậm chí Trương Thắng, Cục trưởng Cục Tác chiến (con trai
nguyên Bộ trưởng Quốc phòng Trương Ái Bình) cũng thừa nhận trong hai cuốn sách
của ông “Đi ra từ chiến tranh” và “Đặc công cuối cùng náu mình ở Đại lục”: về
nguyên nhân của cuộc chiến tranh ấy, ngay Bộ trưởng Quốc phòng khi đó cũng không
rõ vì sao ta phải tiến hành”.
2. Mục đích chiến lược
cơ bản không đạt được. Trong cuộc chiến tranh đó, chúng ta (Trung Quốc) chiếm
ưu thế về cả binh lực lẫn hỏa lực, nhưng chúng ta không đạt được mục đích chiến
lược là tiêu diệt 2 sư đoàn chủ lực 316A và 316B của Việt Nam.
3. Trang bị tiên tiến
xếp xó. Khi đó ta có các trang bị hiện đại máy bay, xe tăng, tên lửa, nhưng do
những người chỉ huy không biết tác chiến hiệp đồng nên các trang bị đó thành đồ
bỏ. Vốn ra một chiếc máy bay có thể giải quyết được vấn đề phong tỏa, nhưng
phải dùng đến cả binh đoàn, đi ngược lại quan niệm giá trị trong chiến tranh.
4. Tấn công không có
bài bản. Vừa khai chiến, bộ đội đã ào ạt kéo vào. Khi tôi (tác giả Thường
Thanh) ở điểm cao 796, nhìn xa nhìn gần, khắp mặt đất toàn là lính ta. Khi đó
tôi đã phẫn nộ nói với Tham mưu trưởng: “Vào trong xóm tìm một đứa trẻ cũng
không chỉ huy tồi như thế”. Một quả pháo, một loạt đạn của đối phương cũng quét
sạch cả một mảng lớn lính ta. Ở mặt trận Cao Bằng, lính bộ binh khi ngồi trên xe
tăng để khỏi ngã đã dùng dây buộc mình vào tháp pháo và xe; kết quả khi xe bị
bắn cháy, những lính này đều bị chết thiêu vì không thoát kịp. Có chiếc xe tăng
bị phá hủy bên trên còn buộc chặt 4-5 người lính bộ binh.
5. Hiện tượng tự thương
trên chiến trường liên tiếp xảy ra. Để lẩn tránh chiến tranh, một số binh lính
sau khi vượt biên sang nước khác đã tự bắn vào chân mình. Có một đại đội vừa
đụng phải khoảng chừng hơn 20 bộ đội Việt Nam thì viên chỉ huy đã lập tức rời
bỏ hàng ngũ chạy trốn về, đã vậy lại còn tự khiến mình bị thương để được đưa
vào bệnh viên, binh lính dưới quyền anh ta thì bị diệt sạch.
6. Trận chiến này của
không hề gây dựng được một chút “uy danh” nào, ngược lại còn bộc lộ ra rất
nhiều vấn đề. Bộ trưởng Quốc phòng Đài Loan đã từng nói: “Nhìn vào biểu hiện
của quân đội Trung Cộng tại chiến trường Việt Nam, việc bảo vệ Đài Loan của
chúng ta là không thành vấn đề!”.
7. Tiêu chuẩn chế độ
cho lính bị thương quá lạc hậu. Sau khi bị thương, tôi được cấp 15 tệ, tương
đương với thời kháng Nhật. Năm 2010, sau 31 năm, tôi nhận được 300 tệ tiền trợ
cấp thương tật, bình quân 30 tệ/năm. Tiền tuất cho lính tử trận chỉ tương đương
giá một con lợn:
300 tệ….”.
300 tệ….”.
Tham gia cuộc chiến
tranh phi nghĩa nên bị xã hội lãng quên chính là nguyên nhân khiến mấy năm gần
đây, cứ vào dịp 17/2 là hàng chuc ngàn cựu binh từng tham gia cuộc chiến tranh
năm xưa lại kéo về Bắc Kinh,
đến trụ sở Quân ủy biểu tình đòi quyền lợi, đòi được đảm bảo mức sống
tối thiểu…
đến trụ sở Quân ủy biểu tình đòi quyền lợi, đòi được đảm bảo mức sống
tối thiểu…



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét