SỰ
KIỆN 30.4 – NHÌN TỪ NHIỀU PHÍA KỲ 4: TS. NGUYỄN TIẾN HƯNG VẠCH TRẦN “KẾ HOẠCH
DI TẢN ĐIÊN RỒ MANG MẬT DANH: TALON VISE” CỦA MỸ
Cảnh di tản từ Đà Nẵng và các tỉnh miền
Trung vào phía Nam đầu tháng 4.1975.
Hơn 3 sư đoàn thủy quân lục chiến (TQLC Mỹ)
sẽ bất ngờ ập đến Sài Gòn bắn phá mở đường để đánh chiếm phi trường Tân Sơn
Nhất và bảo vệ Tòa đại sứ Mỹ nhằm thiết lập “một hành lang di tản” đưa toàn bộ
người Mỹ còn lại ở Sài Gòn ra đi gấp rút…
Cuộc tiến quân “điên rồ” trên được bàn định
và phác thảo bởi Ngũ Giác Đài, đứng đầu là J. Schlesinger (Bộ trưởng Quốc phòng);
Bill Clements (Thứ trưởng Quốc phòng); William Colby (Giám đốc CIA) và một số
quan chức cao cấp khác của Nhà Trắng…
Họ chủ trương, cùng lúc với cuộc đổ bộ của TQLC, là triển khai lực lượng không quân đặc nhiệm với nhiều phi đội máy bay phản lực (sẽ đánh bom sát phạt khi cần) quần thảo và gầm rú, uy hiếp bầu trời Sài Gòn suốt đợt di tản.
Họ chủ trương, cùng lúc với cuộc đổ bộ của TQLC, là triển khai lực lượng không quân đặc nhiệm với nhiều phi đội máy bay phản lực (sẽ đánh bom sát phạt khi cần) quần thảo và gầm rú, uy hiếp bầu trời Sài Gòn suốt đợt di tản.
Dưới mặt biển, 4 hàng không mẫu hạm: Hancock, Coral
Sea, Midway và Interprise (kéo theo nhiều tàu hộ tống khác có 2.200 TQLC bảo
vệ) sẽ áp sát vùng biển Nam Việt Nam, sẵn sàng nã pháo vào các vị trí “nhạy cảm
và cần thiết” ở trung tâm Sài Gòn nếu lực lượng TQLC trên bờ yêu cầu.
Khi phối hợp tác chiến giữa TQLC (trên bộ) với không
quân (trên không) và hạm đội 7 (ngoài khơi) đã “giáp vòng”, một “cầu hàng
không” gồm hàng chục (khả năng có đến hàng trăm) chiếc trực thăng – chủ lực là
loại lớn CH-53 có sức chứa 50-60 người mỗi chiếc – được huy động để bay ra bay
vào Sài Gòn liên tục nhằm chở hết 6.000 người Mỹ, lần lượt đáp xuống các hàng
không mẫu hạm kể trên, với phương châm: “tốc hành”, “nhanh và gọn”… Mọi việc
nhằm mục đích không để những người Mỹ và gia đình của họ “lọt vào tay cộng sản”
– còn số đông người Việt từng cộng tác với Mỹ di tản được hay không là “vấn đề
thứ yếu”…
Trên đây là tóm lược kế hoạch mang mật danh Talon Vise
– một trong những “kế hoạch di tản điên rồ” (crazy plans) của Mỹ – lần đầu tiên
được TS. Nguyễn Tiến Hưng đưa ra ánh sáng công luận, qua cuốn “Khi đồng minh
tháo chạy” (sđd Kỳ 2) ấn hành cách đây 10 năm (2005) – song đến nay (2015 và cả
mai sau) vẫn còn nguyên giá trị tư liệu: “hy vọng những thế hệ con cháu của
đoàn người di tản là những người Mỹ mai đây sẽ nắm địa vị quyền hành, sẽ không
bao giờ đối xử như vậy đối với những đoàn người di tản từ các đồng minh khác
trong một tình huống nào đó, như từ Iraq, Afghanistan, Đài Loan, Đại Hàn, khi
đồng minh của họ cuốn gói ra đi” (Nguyễn Tiến Hưng).
Hải quân Mỹ đẩy một chiếc trực thăng từ tàu Blue Ridge
xuống biển để lấy chỗ cho các trực thăng khác đáp xuống…
Những “kế hoạch di tản điên rồ” như kiểu
Talon Vise được Washington hối hả vạch ra từ những tuần cuối tháng 3.1975,
trong bối cảnh cuộc tiến quân “thần tốc của phe Cộng sản” đang tăng cường độ:
“Ngày 25.3: Bộ Chính trị chủ trương tập trung nhanh nhất lực lượng, binh khí kỹ
thuật và vật chất để giải phóng Sài Gòn trước mùa mưa – Ngày 26.3: giải phóng
TP. Huế – Ngày 29.3: giải phóng Đà Nẵng (…) Các sân bay Gia Lâm, Vĩnh Phú, Đồng
Hới, Phú Bài, Đà Nẵng, Kontum nhộn nhịp khác thường. Các loại máy bay lên thẳng
nặng, nhẹ, các loại máy bay chở khách đặc biệt của ta đều được huy động, không
những để chở người, chở đạn, chở vũ khí, chở sách, báo, phim ảnh, tranh vẽ, các
bản nhạc… mà còn chở hàng tấn bản đồ Sài Gòn – Gia Định vừa mới in xong (…) Các
bến sông Hồng, sông Gianh, sông Mã, sông Hàn, các cảng Hải Phòng, cửa Hội,
Thuận An, Đà Nẵng, cũng ngày đêm nhộn nhịp” (Văn Tiến Dũng – Đại thắng mùa
Xuân). Những hoạt động đó ít nhiều được CIA thâu thập, kết hợp với nhận định và
chủ trương của Bộ Quốc phòng Mỹ, để hình thành nên “kế hoạch điên rồ”. Sau đó
nội dung các “crazy plans” được Nhà Trắng và Ngũ Giác Đài “thông báo nhanh” đến
đại sứ Mỹ Graham Martin ở Sài Gòn để tham cứu.
Và Martin “hết hồn” khi biết tổng thống Ford cùng cấp
lãnh đạo ở Washington muốn dùng “sức mạnh quân sự” cho một giải pháp “di tản
hết” người Mỹ. Lập tức, Martin gởi chính phủ Mỹ và Cố vấn An ninh quốc gia
Kissinger bức mật điện khá dài, khẳng định: “Lệnh di tản người Mỹ đột ngột có
thể gây bạo động ở Sài Gòn. Nếu không giữ bình tĩnh mà lại đưa thủy quân lục
chiến vào đây thì có thể gây sự nổi giận không thể lường được (…). Tôi nhắc lại
một lần nữa là sẽ có náo động lớn nếu gửi quân đội Mỹ vào Sài Gòn”. Những lời
thẳng thắn đó phù hợp với bình luận của tờ Newsweek (28.4), rằng: Kế hoạch
phòng hờ để bảo vệ (di tản) người Mỹ được soạn thảo ra dường như là để “đối phó
với những người lính miền Nam (quân đội Sài Gòn) đang liều mạng tìm lối thoát
hoặc uất hận vì bị bỏ lại, còn nhiều hơn là đối phó với đoàn quân cộng sản đang
tiến tới !”.
Kể cả sau ngày 30.4.1975, Martin đã một lần nữa trình
bày trước Quốc hội Mỹ (1976): “Tôi cho rằng mang quân đội Mỹ vào là một sai lầm
lớn, vì, thưa quý vị, nếu quý vị đứng vào hoàn cảnh của người Việt Nam thì quý
vị sẽ phản ứng như thế nào?”.
Khi bị (Quốc hội) chất vấn là tại sao ông đại sứ
(Martin) không yêu cầu Tổng thống (Ford) cho di tản trước ngày 29.4 (ngày Tân
Sơn Nhất bị pháo kích), Martin trả lời: “Không, vì theo đánh giá kỹ nhất của
tôi, nếu làm sớm hơn sẽ có nguy cơ là xảy ra một tình trạng hỗn loạn với kết
quả là một số rất đông người Mỹ sẽ chết. Nó sẽ dẫn tới một sự khủng khiếp nặng
nề nhất, đó là nhu cầu phải đưa quá nhiều quân lực Mỹ vào, và chúng ta sẽ phải
chiến đấu với quân đội miền Nam (Sài Gòn) để mở đường tháo lui”.
TS. Hưng nhận định: “Ngày nay ta mới hiểu hết được tâm
tư của đại sứ Martin. Rõ ràng là thoạt đầu Washington chỉ muốn di tản nhân viên
tòa đại sứ Mỹ, cơ quan Tùy viên Quốc phòng DAO, công dân Mỹ và một số rất ít
người Việt làm việc cho Mỹ mà thôi. Và phương thức di tản thì lại quá ư là nguy
hiểm. Ta thử tưởng tượng: nếu Mỹ đem từ 3 tới 6 sư đoàn vào để chỉ di tản người
Mỹ và bà con (của họ), trước hết là TQLC chiếm đóng phi trường Tân Sơn Nhất,
rồi Tòa đại sứ Mỹ; sau đó trực thăng và từng đoàn xe Mỹ chở người tới phi trường
(và cũng như vậy, di tản từ các địa điểm khác như Biên Hòa, Cần Thơ). Khi thấy
sự phản bội quá lộ liễu như thế, liệu các đơn vị quân đội, cảnh sát, nghĩa
quân, địa phương quân, dân chúng Việt Nam Cộng hòa (miền Nam) có để yên hay
không ? Vào đầu tháng 4, sau những buổi họp tại dinh Độc Lập và Phủ Thủ tướng,
tôi cũng đã bắt đầu nghe thấy hai chữ “đ.m” (chửi Mỹ bỏ rơi Nam Việt Nam –
GH)”… (còn nữa).
(Sưu tầm từ https://motthegioi.vn)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét