SỰ KIỆN 30.4: NHÌN TỪ NHIỀU PHÍA – KỲ
8: TƯỚNG LĨNH SÀI GÒN ĐÒI “BẮT TẤT CẢ NGƯỜI MỸ LÀM CON TIN
Năm
1964, tướng Dương Văn Minh đã bắt tay bác sĩ Lê Khắc Quyến – sau này là Quốc vụ
khanh kiêm Tổng trưởng Y tế trong nội các cuối cùng của VNCH do GS Vũ Văn Mẫu
làm thủ tướng (cuối tháng 4.1975)
Sau 30.4.1975, Giám đốc Cục tình báo CIA
Mỹ William Colby viết: “Ở Hoa Kỳ, phản ứng đến một cách dần dần. Thoạt đầu,
người ta bị sốc khi trông thấy những tấm ảnh chụp cảnh người Mỹ túm tụm trên
nóc nhà được trực thăng đến bốc đi, nhưng…”
Nhưng
cú sốc ấy đã “được bù trừ bởi tâm trạng nhẹ nhõm của mọi người khi biết
rằng cuối cùng chiến tranh đã kết thúc. Toàn bộ người Mỹ ở Sài Gòn đã được cứu
thoát và người ta không có gì phải lo lắng về số phận của những con tin” (William
Colby – sđdKỳ 3, tr. 18)
“Những
con tin” nào ?
Câu
trả lời tìm thấy trong hồi ký chính trị Việt Nam nhân chứng của
trung tướng Trần Văn Đôn, nguyên Phó thủ tướng (trong chính phủ Nguyễn Bá Cẩn)
kiêm Tổng trưởng Quốc phòng (sau khi thủ tướng Cẩn ra đi) – ấn hành lần thứ
nhất bởi NXB Xuân Thu (tháng 4.1989) tại California, Mỹ; thuật lại:
“Ngày
23.4 (1975), lúc 11 giờ, trung tướng Vĩnh Lộc, Chỉ huy trưởng Trường Cao đẳng
Quốc phòng, trung tướng Nguyễn Bảo Trị, Phụ trách các trường huấn luyện quân
sự, đại tá Nguyễn Huy Lợi, đại tá Vũ Quang và đại tá Trần Ngọc Huyến đến nhà
tôi ở đường Alexandre de Rhodes (lúc đó tôi xử lý thường vụ chức vụ Tổng trưởng
Quốc phòng vì nội các Nguyễn Bá Cẩn từ chức, nay chờ nội các mới sẽ chuyển
giao)” (Trần Văn Đôn, sđd tr. 462).
Tại
cuộc gặp, các tướng tá nói tới việc Mỹ đang “bỏ rơi ta” để “tháo chạy” cho
nhanh, nên cần phải: “Bắt tất cả những người Mỹ còn lại làm con tin !”.
Nếu
ông Đôn đồng ý, 2 vị tướng và 3 vị tá kia sẽ đủ sức hợp đồng và điều động để
“bắt người Mỹ làm con tin”. Nhưng ông Đôn ngăn lại, bảo: “thế nào Mỹ
cũng biết và có kế hoạch để đối phó. Thủy quân lục chiến Mỹ đang chờ ở ngoài
khơi (vùng biển Nam Việt Nam) sẽ đổ bộ với lực lượng hùng hậu, chừng đó sẽ đổ
máu thêm nhiều người, tình thế sẽ rối rắm nguy ngập hơn (…). Bỏ rơi ta (Nam
Việt Nam) là chính phủ Mỹ và quốc hội Mỹ. Bắt một số người Mỹ tại Sài Gòn làm
con tin thì tội nghiệp cho họ mà chẳng ích lợi gì” (sđd, tr. 464).
Căng
thẳng qua đi. “Những con tin” đã không bị bắt và tất cả người Mỹ còn lại ở Sài
Gòn ra đi an toàn, trừ một hai trường hợp hiếm hoi, thiếu may mắn phải tử nạn
trên đường di tản. Như chiếc trực thăng định mệnh CH-46 khi vòng lại đáp xuống
tàu Hancock đã trượt đường bay rơi xuống biển, lật nhào – khiến viên phi công
và phụ lái chết đuối. Người ta đưa ra nhiều con số tổng kết, ở đây chúng tôi
ghi nhận số liệu của Olivier Todd (sđd Kỳ 6, tr. 272) về đợt
di tản “có một không hai” của Mỹ:
·
Ở sân bay
Tân Sơn Nhất (trước 29.4.1975): bốc đi được
5.600 người.
·
Ở tòa đại
sứ Mỹ: đưa 2.206 người – trong đó có
1.373 công dân Mỹ ra đi.
·
Lực lượng
không quân và hải quân Mỹ: thực
hiện 689 chuyến bay, trong đó có 160 chuyến bay đêm, không kể các máy bay tiêm
kích hộ tống.
·
Tàu
Pioneer Commander: tiếp nhận 4.669 người từ cửa sông
Sài Gòn chạy ra biển.
·
8 tàu của
Mỹ: đón 29.783 người khác.
Sau
ngày tổng thống Ford xét lại kế hoạch “di tản điên rồ Talon Vise”
và nới rộng số lượng đón tiếp người Việt, các phương tiện tổng hợp của Mỹ bao
gồm các loại máy bay, chiến hạm, đã đưa đi tất cả 130.000 người Việt
Nam (so với con số giới hạn là chỉ đón 50.000 người Việt lúc đầu).
Colby
viết: “Nam Việt Nam đã sụp đổ một cách hoàn toàn đến nỗi người Mỹ cảm
thấy họ không thể làm bất cứ điều gì để thay đổi kết cuộc của nó. Rồi sau đó là
những chăm sóc cần thiết cho 130.000 người Việt Nam chạy thoát được vào những
giờ phút cuối và cho 500.000 người khác đã phải đương đầu với sóng gió biển
Đông để trốn chạy trên những tàu thuyền cũ nát trong những tháng tiếp theo. Và
cuối cùng là việc chuyên chở, thu xếp nơi ăn chốn ở cho họ. Tất cả
những việc làm đó đã làm cho dư luận Mỹ quên đi mặc cảm tội lỗi của họ đối với
Nam Việt Nam” (sđd. tr 18).
Đúc
kết, đàng sau sự kiện lịch sử 30.4, Colby đọng lại một câu hỏi lớn, đề dẫn từ
một vài con số không nhỏ: “Cuộc chiến tranh này đã cướp đi sinh mạng
của 58.000 binh sĩ Mỹ, làm 300.000 người khác bị thương và làm Mỹ thiệt hại tới
150 tỷ đô la”.
Và: “vấn
đề chủ yếu liên quan đến thất bại ở Việt Nam được nêu ra là tại sao nó lại có
thể xảy ra như thế? Hạm đội hùng hậu của Hoa Kỳ gồm nào hàng không mẫu hạm, nào
tuần dương hạm, ngư lôi hạm (…) có đủ hỏa lực mạnh để nghiền nát vũ khí của Bắc
Việt ra thành tro bụi. Hàng mấy chục pháo đài hay B-52 của không quân chiến
lược Hoa Kỳ có thể dễ dàng đến từ Guam để dội xuống đầu kẻ thù của mình hàng
trăm “quả bom sắt thép”, hoặc thậm chí cả những vũ khí hạt nhân có trong tay.
Quân đội Mỹ hãy còn triển khai ở nhiều nơi trên khắp thế giới để giúp đỡ các
nước bạn bè hoặc ngăn cản quân thù hoạt động. Thế mà sức mạnh khổng lồ ấy đã
không thể thay đổi gì được kết cục của cuộc chiến tranh ở Việt Nam – mâu
thuẫn giữa tiềm lực ấy với thực tế thất bại ở Việt Nam đòi hỏi một sự giải
thích…” (William Colby, sđd tr. 16-17).
Các
nhà nghiên cứu ở Việt Nam có cách nhìn khác với Colby. Như: PGS. TS. Hồ Sơn Đài
trong lời tựa cuốn “Về đại thắng mùa xuân năm 1975 qua tài liệu của
chính quyền Sài Gòn” (sđd Kỳ 1, tr. 7) nêu lên những con
số cụ thể hơn, có “6,5 triệu lượt binh sĩ Mỹ trực tiếp tham chiến,
lúc cao nhất tới 68% bộ binh, 60% lính thủy đánh bộ, 32% lực lượng không quân
chiến thuật, 50% lực lượng không quân chiến lược Mỹ” cộng với hơn
một triệu lính VNCH và quân các nước đồng minh, cùng “gần 8 triệu
tấn bom đạn, lôi kéo đến 39 quốc gia và vùng lãnh thổ” trực tiếp
hoặc gián tiếp tham chiến – qua 6 đời tổng thống Mỹ “chi gần 700 tỷ
đô la, huy động 22.000 xí nghiệp với 6 triệu công nhân công nghiệp, hơn 1/3
tổng số nhà khoa học, 260 trường đại học tham gia nghiên cứu chế tạo các loại
vũ khí và phương tiện chiến tranh”. Để rồi, từ sau
30.4.1975 “nước Mỹ chỉ thu về được một cơn địa chấn tâm lý – xã hội kéo
dài nhiều thập kỷ”.
Đến nay “hàng nghìn công trình nghiên cứu khoa học
về cuộc chiến tranh Việt Nam, trong đó có cuộc tiến công và nổi dậy của nhân
dân Việt Nam trong mùa xuân không thể nào quên năm 1975. Dù vậy, sự hiểu biết
về cuộc chiến tranh ấy, về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy ấy vẫn chưa thể gọi là
đầy đủ, thấu đáo. Nhiều bí mật liên quan đến mưu toan, quyết sách, sự
kiện, diễn biến thực tế của phía đối địch với cách mạng vẫn còn ẩn sâu đâu đó
trong kho lưu trữ, trong trí nhớ của người trong cuộc. Làm lộ diện
những bí mật ấy không chỉ để phục dựng đầy đủ hơn lịch sử cuộc chiến tranh đang
mờ dần về quá khứ, mà còn để từ đó tìm ra những bài học lịch sử cho hôm nay –
khi mà loài người vẫn đang hàng ngày đối diện với nguy cơ chiến tranh và nô
dịch” (còn nữa).
(Sưu tầm từ https://motthegioi.vn)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét