SỰ
KIỆN 30/4 – NHÌN TỪ NHIỀU PHÍA: KỲ 1: CÔNG BỐ HỒ SƠ MẬT CỦA CHÍNH QUYỀN
SÀI GÒN
Quân Giải phóng đánh chiếm dinh tỉnh
trưởng tỉnh Ninh Thuận ở Phan Rang và bắt sống đại tá tỉnh trưởng Nguyễn Văn Tư
lúc 9g30 ngày 16.4.1975
Gần 40 năm sau ngày 30.4, Trung tâm
Lưu trữ Quốc gia II (TP. HCM) thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước (Bộ Nội vụ)
lần đầu tiên cho công bố hồ sơ mật và tối mật của chính quyền Sài Gòn qua một
số ấn phẩm, trong đó có hai cuốn:
1. “Về đại thắng mùa xuân năm 1975 – qua tài liệu của chính
quyền Sài Gòn” (NXB Chính trị Quốc gia, Hà
Nội 2010), do GSTS Phùng Hữu Phú, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó
trưởng ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, làm Trưởng ban chỉ
đạo biên soạn (1). Lời tựa viết:
“Thu thập và bảo vệ toàn bộ tài liệu
lưu trữ của chính quyền Sài Gòn thời kỳ trước năm 1975, Trung tâm Lưu trữ Quốc
gia II thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước – Bộ Nội vụ muốn chia sẻ một phần
“bí mật” về động thái của giới cầm quyền Mỹ và chính quyền Sài Gòn trong cơn
tuyệt vọng khởi từ hiệp định hòa bình tháng giêng năm 1973 cho đến trưa ngày
cuối cùng của tháng Tư hai năm sau đó (…) với nhiều tư liệu lần đầu tiên
được công bố” (PGS. TS.Hồ Sơn Đài).
2. “Từ
chiến dịch xuân hè 1972 đến Điện Biên Phủ trên không” (NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội 2013), do TS. Vũ Thị Minh Hương – Cục trưởng Cục văn thư và
Lưu trữ nhà nước chỉ đạo công bố (2).
Cả hai cuốn gộp lại dày trên 760
trang, khổ 16 x 24cm, với nhiều tài liệu có đóng dấu “Mật” hoặc “Tối mật” như
hồ sơ số 568 – Font ĐIICH (3), “Thượng khẩn” hoặc “Hỏa tốc” (hồ
sơ số 241 – Font ĐIICH), cả bản thảo phát biểu viết tay có chữ ký của Tổng
thống Nguyễn Văn Thiệu (hồ sơ số 572 – Font ĐIICH) – được thâu giữ từ Phủ Tổng
thống (dinh Độc Lập) và các cơ quan nội chính, tình báo và an ninh quân đội…
Hồ sơ số 18620 – font PTTg (4) của Bộ tư lệnh Biệt khu Thủ đô
(Sài Gòn) có đóng dấu “Kín” và “Thượng khẩn” (thảo ngày 14 và 15.4.1975) ghi
nhận tình trạng xáo trộn trong quân đội Sài Gòn vào những tuần cuối của cuộc
chiến: “Một số quân nhân thuộc các đơn vị phòng thủ hay đồn trú tại địa
phương đã xin phép hoặc trốn về thu xếp di tản gia đình và đã không trở lại đơn
vị, hoặc vì lưu thông gián đoạn, hay vì gia đình cầm giữ. Một số quân nhân khác
vẫn để gia đình tại chỗ – khi cuộc tấn công xảy ra số quân nhân này đã bỏ để về
lo bảo bọc gia đình. Các sự kiện trên đưa đến tình trạng tan rã …”.
Văn bản đó do trung tướng Nguyễn Văn
Minh, Tư lệnh Biệt khu Thủ đô, kiêm Tổng trấn Sài Gòn – Gia Định ký, huấn thị
rõ về triển khai gấp rút hệ thống “tử thủ” Sài Gòn với 5 liên khu và các bộ chỉ
huy chiến thuật “mỗi bộ chỉ huy do một đại tá làm chỉ huy trưởng với
các thành phần tham mưu chuyên trách về hành quân”. Đồng lúc, biện
pháp “quân sự hóa 335 khóm hiện hữu tại đô thành được thực hiện với
quân số của Bộ Tổng tham mưu cung cấp”. Phân tích thêm: “Hiện
trạng dân số đông đảo, hỗn tạp của Đô thành (Sài Gòn) đã gây trở ngại trong
việc kiểm soát an ninh, thêm vào đó, đồng bào từ các vùng chiến nạn tản cư đến,
cùng với những quân nhân lạc ngũ, vô kỷ luật từ các đơn vị trốn về Thủ đô (Sài
Gòn) đã tạo thêm môi trường cho cộng sản xâm lược (chỉ Quân Giải phóng) lợi
dụng để xâm nhập đặc công, cán bộ vào Đô thành” – gởi Phủ Tổng thống,
Phủ Thủ tướng, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng tham mưu cùng các đơn vị trực thuộc ngày
17.4.1975.
Vào thời điểm trên, theo hồi ức của
đại tướng Võ Nguyên Giáp: ông Lê Đức Thọ đã từ Hà Nội vào Nam công bố Quyết
định ngày 6.4.1975 của Bộ Chính trị về thành lập Bộ chỉ huy chiến dịch Sài Gòn
– Gia Định (chiến dịch Hồ Chí Minh), gồm: Văn Tiến Dũng (Tư
lệnh), Phạm Hùng (Chính ủy), Trần Văn Trà, Lê Đức Anh,
Lê Trọng Tấn, Đinh Đức Thiện (Phó tư lệnh), Lê Quang Hòa (Phó
Chính ủy kiêm Chủ nhiệm chính trị), Lê Ngọc Hiền (Quyền Tham
mưu trưởng, chuyên trách tác chiến), Nguyễn Văn Linh (Phó Bí
thư Trung ương Cục, đặc trách phong trào nổi dậy của quần chúng, nhất là Sài
Gòn), Võ Văn Kiệt (Ủy viên thường trực Trung ương Cục, chỉ đạo
việc tiếp quản thành phố). Đúng 10 ngày sau (16.4.1975), Quân Giải phóng đánh
chiếm Phan Rang, bắt sống đại tá tỉnh trưởng tỉnh Ninh Thuận Nguyễn Văn Tư (lúc
9 giờ 30), bắt chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang – Tư lệnh Sư đoàn 6 Không quân và
trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Phó tư lệnh Quân đoàn 3 (lúc 10 giờ), cùng hàng
nghìn sĩ quan binh lính Sài Gòn. Ngay sau đó Bộ Tổng tham mưu lệnh đưa
tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Phạm Ngọc Sang từ Phan Rang ra Hà Nội bằng máy bay
gấp. Ra đó, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi được đưa vào gặp các sĩ quan Cục tác chiến
để trả lời một số câu hỏi.
Về hướng hiểm yếu để tiến công Sài
Gòn, tướng Nghi nhận định “tiến công từ Gò Dầu hạ – Trảng Bàng” là
dễ chiếm thế thượng phong nhất (5). Quân ủy Trung ương và Bộ
Tổng tư lệnh cũng nắm được phương thức bố trí “các kho đạn chính ở Nhà
Bè và Cát Lái (Long Bình chỉ là kho tiếp liệu)” và Sài
Gòn “dựa chủ yếu vào lực lượng không quân, nên các sân bay Tân Sơn
Nhất, Biên Hòa và Cần Thơ giữ vai trò quan trọng, đặc biệt là sân bay Biên Hòa,
nơi đậu các máy bay cường kích F5 và A37” (Võ Nguyên Giáp, sđd). Được
hỏi lý do thất bại nhanh chóng của quân đội Sài Gòn tại mặt trận miền Trung và
Phan Rang, tướng Nguyễn Vĩnh Nghi nói thẳng:
– Chúng tôi thiếu tiếp liệu
và thiếu thời gian. Nếu các ông đánh chậm một tháng nữa thì chưa biết sẽ ra sao
! (còn nữa).
Giao Hưởng
Chú thích:
(1) Ban chỉ đạo biên soạn:
TS Nguyễn Duy Hùng, Giám đốc – Tổng biên tập và TS. Khuất Duy Kim Hải, Phó giám
đốc – Phó Tổng biên tập NXB Chính trị Quốc gia, TS. Vũ Thị Minh Hương, Cục
trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước thuộc Bộ Nội vụ, Ô. Phạm Việt, Trưởng
ban Sách Nhà nước và Pháp luật (NXB Chính trị Quốc gia) và Ô. Nguyễn Xuân Hoài,
Giám đốc Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (sau đây viết tắt: Trung tâm).
Cố vấn khoa học: PGS. TS. Hồ Sơn Đài (đại tá – Trưởng phòng khoa học
Công nghệ – Môi trường, Bộ Tham mưu – Quân khu 7) và PGS. TS. Hà Minh Hồng –
Chủ nhiệm Khoa Lịch sử, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí
Minh.
(2) Chỉ đạo biên soạn: TS. Nguyễn Xuân Hoài
– Giám đốc Trung tâm Lưu trữ quốc gia II. Ban biên soạn: TS.
Phạm Thị Huệ, Hà Kim Phương, Nguyễn Thị Vui, Lê Vị.
(3) Font ĐIICH (Phông Đệ nhị Cộng hòa – Sài Gòn). Tất cả
số ký hiệu của hồ sơ dẫn trong loạt bài này theo đúng với số ký hiệu ghi trên
tài liệu hiện lưu trữ tại Trung tâm.
(4) Font PTTg (Phông Phủ Thủ tướng – Sài Gòn).
(5) Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp –
30.4.1975 Bản hùng ca thế kỷ 20, NXB Lao Động, Hà Nội 2006, tr. 227.
(Sưu tầm từ https://motthegioi.vn)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét