Hồ Chí Minh Chính Là Nguyễn Ái Quốc
Hiện nay trên mạng có bài viết, phim tài liệu bịa đặt về lãnh tụ
Hồ Chí Minh, họ nói Nguyễn Ái Quốc đã chết sau khi ra khỏi nhà tù của Quốc Dân
đảng Trung Quốc, năm 1931. Hồ Chí Minh là người Trung Quốc gốc Đài Loan (*). Họ
lợi dụng thời gian sau khi Nguyễn Ái Quốc ra tù, có tin đã chết để xuyên tạc.
Họ khai thác tính tự tôn dân tộc, gây nghi ngờ về người thầy vĩ
đại của nhân dân Việt Nam, làm giảm niền tin, hòng thực hiện mưu đồ lật đổ chế
độ do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Tôi đã tìm kiếm tư liệu để hiểu sâu về Người, chứng minh Hồ Chí
Minh chính là Nguyễn Ái Quốc, hầu góp phần phản bác những bịa đặt ấy, củng cố
niềm tin cho ai đang phân vân.
1.- Về thời gian Nguyễn Ái Quốc trở lại
Moskva đọc (Mat Xơ Cơ Va) sau
khi ra khỏi nhà tù Quốc Dân đảng Tưởng Giới Thạch : 1934-1938, bị Quốc tế Cộng
sản nghi ngờ không giao công tác.
1.1- Để trả lời vấn đề này, trước tiên phải nghiên cứu về tư tưởng
của Nguyễn Ái Quốc khi tổ chức hợp nhất ba đảng Cộng sản năm 1930 và các văn
kiện do Người vạch ra phổ biến tại Hội nghị.
Từ việc nắm chắc thực tiễn tình hình Việt Nam Đông Dương nói
riêng, Châu Á nói chung, Nguyễn Ái Quốc đưa ra chủ trương đấu tranh cách mạng ở
Đông Dương có những điều khác với Quốc tế Cộng sản:
1.2- Những điểm khác giữa Nguyễn Ái Quốc với Quốc tế Cộng sản :
- Nguyễn Ái Quốc đặt tên đảng là Đảng Cộng sản Việt Nam.
Có những công trình nghiên cứu chỉ ra lúc đó ở Campuchia và Lào
chưa đào tạo được người nên ban đầu lấy tên Đảng Cộng sản Việt Nam, khi có cán
bộ sẽ điều chỉnh.
Các văn kiện đưa ra tại Hội nghị hợp nhất gồm Chánh cương vắn
tắt của Đảng; Sách lược vắn tắt của Đảng; Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản
Việt Nam; Chương trình tóm tắt của Đảng có nhiều điểm không được Quốc Tế Cộng
sản tán thành. Như trong Chương trình tóm tắt của Đảng có ghi : Đảng lôi kéo
tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phía giai cấp vô sản; Đảng tập hợp hoặc
lôi kéo phú nông, tư sản và tư sản bậc trung, đánh đổ các đảng phản cách mạng
như Đảng Lập hiến v.v.. (1)
Chính vì vậy mà Quốc tế Cộng sản cử Trần Phú về nước sửa lại tên
đảng thành Đảng Cộng Sản Đông Dương và bác bỏ các văn kiên của Nguyễn Ai Quốc,
soạn ra Luận cương Chính trị, theo luận điểm “tả khuynh” do Quốc tế
Cộng sản chỉ đạo.
Nguyễn Ái Quốc cho rằng ở Việt Nam giai cấp tư sản chua phát
triển như ở Nga, Trung Quốc, nên tranh thủ họ ủng hộ công cuộc giành độc lập,
chủ trương tạm gát đấu tranh giai cấp để đoàn kết mọi giai cấp chống kẻ thù dân
tộc. Người nói rõ : Không giành được độc lập cho dân tộc thì cũng không thể
giành quyền lợi cho giai cấp vô sản được. Nguyễn Ái Quốc chủ trương chỉ tịch
thu ruộng đất của địa chủ phản đông và của bọn thực dân, với địa chủ yêu nước
phải lôi kéo họ ủng hộ cách mạng do giai cấp vô sản lãnh đạo.
Quốc tế Cộng Sản cho rằng những chủ trương của Nguyễn Ái Quốc là
tư tưởng dân tộc chủ nghĩa, không đúng đường lối của Quốc tế Cộng
Sản.
2.- Quốc tế Cộng sản nghi ngờ do đâu mà Nguyễn Ái Quốc - lúc này lấy tên
Tống Văn Sơ - làm sao được đế quốc trả tự do tại Hương Cảng, làm cách nào thoát
được bọn mật thám trên đường trở lại Matxcơva ?
Chúng ta biết Bác được luật sư Loseby giúp đỡ cãi trắng án, ông
tổ chức cho Bác bí mật đưa ra tàu để đi Hạ Môn (tức Ma Cao) đánh lạc hướng mật
thám Anh Pháp rồi xuống tàu đi Thượng Hải, nhờ bà Tống Khánh Linh móc nối với
đảng Cộng sản Trung Quốc, tìm được tàu thủy của Liên Xô đi Vladivostốk để trở
lại Matxcơva (2). Đây là điều may hiếm có của Bác, khó nói cho các đồng chí
lãnh đạo Quốc tế hiểu rõ được.
Gia đình luật sư Loseby sang Việt Nam thăm chủ
tịch Hồ Chí Minh năm 1960.
Ảnh kiemssat.vn
Tác giả Hồ Tuấn Hùng trong cuốn “Hồ Chí Minh Bình Sinh Khảo”
nói có thấy giấy báo tử của Tống Văn Sơ. Nhưng người khác, ông Phạm Đình Lân,
lập luận lúc đó giữa Chính quyền Hồng Kông và mật thám Pháp tuy bắt tay
nhau nhưng vẫn có mâu thuẩn và họ đã làm giấy báo tử, nhưng Tống Văn Sơ còn
sống để khỏi gây mất lòng Pháp. Theo tôi nhận định, do Tòa án Vương quốc Anh đã
tuyên phải thả Tống Văn Sơ, luật sư Loseby đã cãi trắng án, ủng hộ, nên đã đưa
ý kiến tạo ra chuyện Tống Văn Sơ chết để đánh lạc hướng mật thám Pháp, giải cứu
Nguyễn Ái Quốc được thành công.
Do nghi ngờ nên Quốc tế Cộng sản không giao công việc quan trọng
cho Nguyễn Ái Quốc trong thời gian gần năm năm, từ 1934 đấn 1938. Thời ấy việc
cảnh giác là tất yếu, khi có đồng chí bị địch bắt. Thời kháng chiến chống Pháp,
chống Mỹ sau này, người bị bắt được thả ra phải kiểm điểm và tổ chức thử thách
khá lâu mới giao nhiệm vụ. Thời của Bác gặp lúc quốc tế Cộng sản khuynh tả,
Stalin đa nghi, nên xử sự với Bác như thế là khó tránh. Nhưng Bác là người nhạy
cảm về chính trị, khéo chịu đựng, biết tranh thủ những người khác ủng hộ nên
tránh được điều không hay có thể gặp. “Chủ tịch đoàn Quốc tế Cộng sản là
Đimitờrốp, người chủ xướng đường lối tập hợp rộng rãi toàn thế giới giai cấp
công nhân và mọi lực lượng dân chủ thành một mặt trận nhân dân chống phát xít.
Đimitờrốp đã thông cảm sâu sắc với Nguyễn Ái Quốc. Ông quyết định tạo điều kiện
để người chiến sĩ cách mạng kiên cường và sáng tạo này sớm được trở về nước
hoạt động” (2A). Là người thân cận với Bác Hồ nên biết, Đại tướng Võ Nguyên
Giáp có kể lại trong Hồi ký của mình thời gian này Bác Hồ là người cô đơn, rất
khổ tâm vì không được tổ chức giao nhiệm vụ.
Đây là khoảng trống trong hoạt động cách mạng của Bác. Từ cuốn
sách của Hồ Tuấn Hùng, kẻ khác khai thác, bịa thêm thời gian này Quốc tế Cộng
sản bồi dưỡng trang bị cho một người Đài Loan bạn chiến đấu với Bác lúc ở Hồng
Kông đóng giả lợi dụng uy tín Nguyễn Ái Quốc, đưa về Trung Quốc hoạt động.
3.- Những điều chứng minh Hồ Chí Minh là Nguyễn
Ái Quốc :
3.1- Từ các tài liệu về cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác,
tôi xin rút tỉa một số sự kiện ở những thời gian khác nhau, với nhiều người
khác nhau Bác từng sống và gặp lại sau này.
- Năm 1946, Bác Hồ qua Pháp theo lời mời của Chính phủ nước này
để đàm phán tại Hội nghị Phông-ten-nơ-blô. “Ngày 4 tháng 7 (năm 1946), vào hồi
13 giờ 15 phút, Xanh-tơ-ni đón Chủ tịch Hồ Chí Minh đi dự tiệc do Đô đốc
Đắc-giăng-li-ơ mời ở khách sạn Rít-đơ, có một cuộc gặp gỡ tình cờ đầy thú vị.
Trong bữa tiệc này có hai vị khách đặc biệt đáng chú ý là: A-va-ran,
người đã chạm trán với Nguyễn Ái Quốc ở Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp
họp ở Tua năm 1920 với tư cách là đại biểu Đảng bộ Puy-đờ-Đôn, ủng hộ L.
Bơ-lum, năm 1925 đã sang làm Toàn quyền Đông Dương; và An-be Xa-rô đã
làm toàn quyền Đông Dương hai lần, làm Bộ trường Bộ thuộc địa, đã theo dõi chặt
chẽ mọi hoạt động của Nguyễn Ái Quốc, định “bẻ cổ” Nguyễn Ái
Quốc dám ngang nhiên chống lại nước Pháp, dám trốn đi Mát-xcơ-va, đến Quảng
Châu để liên lạc với những người Cách mạng Việt Nam. Y đã có thời làm Thủ tướng
của nền Cộng hòa thứ ba của nước Pháp, nay gặp lại Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh ở
đây, chìa tay ra bắt, và nói một câu : “Ồ ! Anh đấy hả ? “Tên đạo tặc”
năm xưa. Nghĩ lại, tôi đã trải qua một phần lớn cuộc đời để chạy theo anh”.
An-be Xa-rô xiết chặt tay Bác Hồ vào lòng, gọi Bác là
“Người bạn quý”, và chỉ yêu cần Bác một điều : xin vẫn để một trường trung học
mới thành lập ở Hà Nội, mang cái tên là “ An-be Xa-rô”. (3)
- Năm 1946, khi Bác Hồ đi Pháp trở về trên chiếc tàu thủy của
Pháp, khi cập cảng Hải Phòng có hàng ngàn người dân đón Bác. Trong số này có
một người là bạn thân (Ông già Thuyết) thời làm thủy thủ tàu sang Pháp,
người bạn đồng nghiệp đã cùng sống với Bác trong một hiệu ảnh ở Paris…
…“Ông già Thuyết sung sướng, xúc động quá, chỉ lắp bắp được
mấy tiếng:
- Hồ Chủ tịch, Hồ Chủ…
Nhưng Bác Hồ đã giữ bàn tay, ngắt lời ông già
:
- Đừng xưng hô như thế ! Cứ coi tôi là
Ba như ngày xưa...
Rồi Bác ân cần dắt ông già Thuyết vào phòng
nghỉ của mình chuyện trò. Nửa giờ sau, khi lưu luyến tiễn chân người bạn cũ ra
về, Bác thân thiết nắm tay, ân cần dặn dò :
Tôi bây giờ tuy là Chủ tịch nước, nhưng chẳng
qua cũng chỉ là tôi tớ nhân dân mà thôi. Đối với anh trước sau tôi cũng vẫn là
một người bạn thân. Anh nhớ gửi thư cho tôi luôn.
Bác còn đứng lại nhìn theo mãi ông cháu ông
già Thuyết đi về ».
(4)
Ông gìa Thuyết là người rất thân với Nguyễn Ái Quốc, không hề
nhầm lẫn.
Họ lập luận do đóng giả nên sau khi giành được chính quyền, Hồ
Chí Minh không dám về thăm quê vì sợ bị phát hiện. Phải đợi sau khi ông Cả
Khiêm mất, Hồ Chí Minh mới dám về quê. Sự thật, sau tháng Tám 1945, chị ruột
của Bác là bà Nguyễn Thị Thanh ( Bạch Liên ) ra Hà Nội thăm Bác. Do bận họp Bác
phải nhờ đưa bà Thanh về nhà ông Đặng Thái Mai là người cùng quê thân thiết
nghỉ ngơi. Sau khi xong việc Bác đến gặp bị bà Thanh trách móc giận hờn. Bác
nói những điều mà khi còn ở nhà chị em thương nhau rất xúc động thiết tha nên
bà Thanh không giận Bác nữa. Liệu ai đó đóng thế làm sao biết những kỷ niệm chỉ
có người trong cuộc ấy mới nhớ không ? Tôi nói là không. Và làm sao người đóng
thế đó qua mặt được người chị ruột từng nuôi, chăm sóc người em thuở còn thơ vì
mẹ mất sớm ?
Sau khi bà Thanh về quê ít lâu, ông Nguyễn Tất Đạt (ông Cả Khiêm
) cũng ra Hà Nội gặp Bác. (5) Xin đọc PHỤ ĐÍNH 2.
Chuyện Bác không về thăm quê sau khi giành chính quyền là điều
dễ hiểu. Chúng ta biết tình hình lúc đó rất rối ren, thù trong, giặc ngoài đang
chống chính phủ do Cụ Hồ lãnh đạo. Dân ta vừa bị chết đói hai triệu con người,
phải lo giải quyết khó khăn đang đè nặng “ngàn cân treo sợi tóc”, thì giờ đâu
mà về thăm quê. Dân tộc ta có một vị lãnh tụ suốt đời chỉ biết lo cho dân cho
nước, hy sinh chuyện riêng tư cá nhân, thì làm sao về thăm quê như những con
người tầm thường được.
- Ngày 12 tháng 10 năm 1937, Nguyễn Ái Quốc viết thư cho đồng
chí Ăngđrê Mácty: Thể hiện tình cảm thắm thiết, lòng tiếc thương vô hạn về việc
đồng chí Pôn Vayăng Cutuyariê từ trần. Liệu ai đó đóng thế Hồ Chí Minh có biết
chuyện Người và Pôn Vayăng Cutuyariê thân thiết nhau mà thể hiện tình cảm thắm
thiết. Có thể người ta biết, nhưng không có cái tình như vậy.
- Từ năm 1925 tại Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc mở lớp đào tạo cán
bộ có nhiều người học ở đây và hoạt động chung với Bác như ông Hồ Tùng Mậu,
Nguyễn Lương Bằng, Phạm Văn Đồng. Năm 1940 Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc cùng
Võ Nguyên Giáp, gặp Hồ Quang - tên của Nguyễn Ái Quốc lúc này- ở Thủy Hồ, Côn
Minh, Người nói với ông Phạm Văn Đồng : trông chú không có gì khác trước. (tức
năm 1926 ông Đồng học lớp cán bộ do Bác dạy ở Trung Quốc). Còn Võ Nguyên Giáp
lần đầu gặp Người, thấy Nguyễn Ái Quốc một sự điềm đạm, bình thản, thân thuộc
như đã gặp từ lâu rồi. Trong câu chuyện thỉnh thoảng Bác nói xen vào những
tiếng địa phương miền Trung làm ông rất ngạc nhiên, vì Bác xa nước đã lâu
ngày. Ông nghĩ, vĩ nhân bao giờ cũng giản dị.
Lúc Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng còn ở trong nước, nghe
tin Nguyễn Ái Quốc mất trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, hai ông hết sức lo
lắng, dò hỏi khắp nơi. Cho đến khi nhận được nét bút nhắn tin của Nguyễn Ái Quốc
gửi về trong một tờ báo, hai ông vô cùng mừng rỡ, khi đó mới thoát khỏi cái cảm
giác bơ vơ. (theo Sơn Tùng).
Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng Tư lệnh
quân đội Nhân dân Việt Nam là hai người học trò gần gũi, thân thiết, được Bác Hồ
quý mến nhất, là những người hiểu Bác nhất, kính trọng và có những tác phẩm
viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh sâu sắc nhất. Chắc chắn các ông không lầm nếu ai
đó đóng giả Hồ Chí Minh.
Ông Hồ Tùng Mậu cùng hoạt động với Bác ở Trung Quốc, khi
hay tin Bác bị bắt đã đến nhờ luật sư Loseby giúp đỡ; sau đó bị bắt, Pháp dẫn
độ về nước, tuyên án tử hình, rồi giảm còn chung thân, bị giam qua nhiều nhà tù
như Lao Bảo, Sơn La, Kontum. Khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ
Chí Minh gửi thư mời ra Hà Nội và giao nhiệm vụ Chính ủy và Khu trưởng khu 4,
kiêm Giám đốc Trường Quân Chính Nhượng Ban khu 4. Tháng 12/1949, khi ký quyết
định thành lập ngành Thanh tra, Bác Hồ đã giao cho ông Hồ Tùng Mậu chức Tổng
Thanh tra Chính phủ.
- Ngày 14-6-1957, Bác Hồ về thăm quê gặp lại những người bạn
thời còn nhỏ tay bắt mặt mừng, nhắc lại chuyện thời niên thiếu của nhau. Một cụ
già chờ Bác ở ngõ, Bác lên tiếng hỏi ngay :
- Có phải ông Điền không ?
- Vâng…anh Côông (*)…Bác, Bác Hồ !
Bác nhanh nhẹn bước tới, nắm tay ông cụ đang run run vì cảm
động, Bác hỏi :
- Anh Điền, anh vẫn khỏe chứ ?
Cụ già đó là ông Điền, người bạn thời niên thiếu của Bác, đã từng
cùng nhau đi câu cá, đi thả diều. Hai tiếng “anh Điền” làm cho cụ già cảm động.
Trước mặt cụ vẫn là người bạn năm xưa dù Bác đã trở thành Chủ tịch nước”…(6).
Người đóng thế làm sao biết người bạn thời niên thiếu ấy ?
- Được tin thân phụ (Cụ Nguyễn Sinh Sắc) đi nhậm
chức tri huyện Bình Khê ( Bình Định ), Nguyễn Tất Thành rời Trường Quốc học
Huế, theo cha vào Bình Khê. Nguyễn Tất Thành được cha gửi học tại Trường tiểu
học Quy Nhơn, với sự giúp đỡ của thầy Phạm Ngọc Thọ.
Sau khi chia tay cha, Nguyễn Tất Thành nán lại nhà ông Phạm Ngọc
Thọ một thời gian để chuẩn bị cho một chuyến đi xa. Ông Phạm Ngọc Thọ kính
trọng quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy và rất mến Tất Đạt, Tất Thành. Tất Thành
rất yêu quý Phạm Ngọc Thạch, con ông Phạm Ngọc Thọ (7). (Chức thừa biện là khi
đỗ Phó bảng, cụ Nguyễn Sinh Huy được triều đình bổ nhiệm. Nguyễn Sinh Huy là tên
khác của cụ Nguyễn Sinh Sắc. Phạm Ngọc Thạch về sau là bác sĩ,
Bộ trưởng Bộ Y tế đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).
Hiển nhiên Phạm Ngọc Thạch là người yêu nước, một trong những
thủ lĩnh Thanh niên tiền phong, một tổ chức cách mạng ở Nam bộ, có công lớn
trong việc cùng các đồng chí của mình cướp chính quyền ngày 25/8/1945 tại Sài
Gòn. Nhưng ông là người từng gặp Nguyễn Tất Thành thời còn nhỏ, được Tất Thành
cảm mến. Nay khi chọn người vào Chính phủ, tất nhiên ông Phạm Ngọc Thạch là
người được Hồ Chí Minh chú ý trước tiên.
Nếu có chuyện Hồ Chí Minh giả thì liệu người đóng giả ấy làm sao
biết Phạm Ngọc Thạch từ năm 1910 ở Quy Nhơn mà chọn sử dụng không ? Tôi
nói là không.
Còn đây nữa: Năm 1924, tại Ban biên tập tờ báo “Những người
xây dựng trẻ” ở Matxcova, Mácxinốp được làm quen với đồng
chí Nguyễn Ái Quốc và được đồng chí hỏi về tờ báo, về câu chuyện của thiếu sinh
quân. Trước khi chia tay, Nguyễn Ai Quốc viết bằng tiếng Việt vào quyển vỡ của
Mácxinốp một câu : “ Các em hãy đi theo con đường của Lênin !”.
Năm 1934, tức mười năm sau, Macxi nốp gặp lại Nguyễn Ái Quốc ở
quảng trường Arơbat và phố Vôrốpxki…Lúc ấy đồng chí đang giảng bài ở Trường
Quốc tế Lenin…(8)
Trong cuốn "Hồ Chí Minh với nhân tài và kiến
quốc", nhiều tác giả, Nxb Quân đội nhân dân phát hành năm 2008 có bài
trích hồi ký của Archimedes Patti (sĩ quan tình báo của quân đội Mỹ, trú đóng
ở Côn Minh, Trung Quốc lúc Thế chiến lần thứ 2.) Thời đó Bác Hồ sang Trung Quốc
dẫn trả trung úy Sao phi công Mỹ bị quân Nhật bắn phải nhảy dù ta cứu sống.
Pát-ti gặp Bác Hồ và biết rõ Bác là người Cộng sản, bị bắt ở Hồng Kông năm
1931. Xem đoạn hồi ký của Pat-ti ở PHỤ ĐÍNH 1.
3.2- Nghiên cứu về tình cảm, phong cách, đạo
đức để xác định Hồ Chí Minh là một người Việt Nam, không phải là người Trung
Quốc.
Hồ Chí Minh là một con người rất trọng nhân nghĩa, thủy chung,
luôn nhớ ơn dù sự giúp đỡ nhỏ hay lớn.
- Đặc biệt Bác Hồ đã chịu ơn Luật sư Loseby cứu giúp trong vụ án
Nguyễn Ái Quốc ở Hồng Kông. Năm 1960, vào dịp Tết âm lịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh
mời vợ chồng và con gái luật sư Loseby sang thăm Việt Nam. Bác ra tận sân bay
đón và tiễn khách ôm hôn rất thân tình. Những ngày luật sư ở Việt Nam, Bác luôn
đến thăm viếng căn dặn cán bộ phục vụ chu đáo trong việc đưa khách đi thăm các
danh lam thắng cảnh…Sau chuyến thăm trở về nước, ngày 19-2-1960, ông bà luật sư
Loseby đã viết thư cám ơn Bác, trong thư có đoạn : “ Ngài nói rằng tôi đã “cứu
sống ngài”, điều đó có thể đúng, nếu vậy thì đó chính là việc làm tốt nhất mà
tôi đã từng làm, và mãi mãi là một việc làm sáng suốt…”.
Liệu ai đó đóng thế Hồ Chí Minh có biết rõ và làm việc ơn nghĩa
sâu nặng ấy không ? Tôi nói là không. Và nếu có người đóng giả thì có qua mặt
được luật sư Loseby không ? Không thể, vì ông ấy và vợ tiếp xúc với Tống Văn Sơ
- tức Hồ Chí Minh sau này - trong nhà tù ở Hương Cảng nhiều lần.
- Ông Hồ Tùng Mậu đi công tác, bị máy bay Pháp bắn chết ngày
23-7-1951, tại Phố Còng, Tĩnh Gia, Thanh Hóa.
Nghe tin Chủ tich Hồ Chí Minh ký sắc lệnh truy tặng Huân chương
Hồ Chí Minh và tự tay viết Lời điếu viếng ông, trong đó có đoạn :
“Chú Tùng Mậu ơi ! Lòng ta rất đau xót, linh
hồn chú biết chăng ? Về tình nghĩa riêng - tôi với chú là đồng chí, lại là thân
thiết hơn anh em ruột. Khi hoạt động ở đất khách quê người, khi bị giam ở lao
tù đế quốc, khi tranh đấu ở nước nhà…đã bao phen chúng ta đồng cam cộng khổ như
tay với chân”, “mất chú, đồng bào mất một lãnh đạo tận tụy, Chính phủ mất một
cán bộ lão luyện, đoàn thể mất một người đồng chí trung thành và tôi mất một
người anh em chí thiết ! Mấy nguồn thương tiếc ! Mấy nguồn thương tiếc cộng vào
một lòng tôi…”
(trích tiểu sử Hồ Tùng Mậu trên Wiki ).
Nếu một người đóng thế có được kỷ niệm sống chết giữa hai người
để viết lên lời đau đớn thống thiết như vậy không ? Chắc là không.
- Chuyện về “Sự ra đời của một bài thơ”: …Nhân chuyến vào
Thanh Hóa có việc riêng, nữ thi sĩ Hằng Phương đã nghĩ làm sao khi về phải có
món quà đầy ý nghĩa đến thăm sức khỏe của Bác. Tại Thanh Hóa có nhiều loại cam
làng Giang ngon nổi tiếng. Nhà thơ liền chọn mua chục quả về biếu Bác.
Ngồi trên xe trở về Hà Nội, vừa khư khư ôm túi cam, vừa nghĩ đến
ngày mai vào Bắc Bộ phủ gặp Bác nên nói câu gì, và nói như thế nào cho phải
phép với Bác. Hằng Phương nhẩm ngay một bài thơ:
Cam ngon Thanh Hóa vốn dòng
Kính dâng Chủ tịch tỏ lòng mến yêu
Đắng cay Cụ trải đã nhiều
Ngọt bùi trời trả đủ điều từ đây
Cùng quốc dân hưởng những ngày
Tự do hạnh phúc tràn đầy trời Nam
Anh hùng tỏ mặt giang san
Lưu danh thiên cổ vẻ vang giống nòi.
Sáng hôm sau, nhà thơ cẩn thận gói cam vào
giấy đẹp, trân trọng chép lại bài thơ rồi đến Bắc Bộ phủ thăm Bác.
Vừa đến cổng, bà liền được đồng chí bảo vệ chỉ đường vào phòng
làm việc của Bác. Nhưng lúc đó Bác còn bận tiếp một vị khách nước ngoài ở phòng
tiếp khách. Đồng chí văn phòng bảo nhà thơ ngồi chờ một lát. Nhưng nhà thơ thấy
Bác bận quá, không muốn làm phiền Bác, bèn gửi cam và bài thơ lại rồi xin phép
ra về.
Sau khi tiễn chân người khách nước ngoài, Bác trở lại văn phòng
và biết bà khách đã về rồi. Nhìn gói cam và đọc bài thơ, Bác rất cảm động,
nhưng lại không biết tên và địa chỉ của khách, Bác liền làm một bài thơ đăng
Báo Phụ nữ để trả lời. Bài thơ đề là “Tặng cam”.
Cảm ơn bà biếu gói cam
Nhận thì không đặng, từ làm sao đây
Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Phải chăng khổ tận đến ngày cam lai.
Bài thơ bày tỏ lời cảm ơn, đồng thời nhân đó nêu lên bài học đạo
đức từ một câu tục ngữ rất quen thuộc và khẳng định niềm tin vào thắng lợi sắp
tới.
Mấy chục năm qua, bài thơ đã đi vào lòng người, nhưng ít ai chú
ý đến chi tiết bà biếu gói cam-một chi tiết gợi cảm hứng cho sự ra đời một bài
thơ có giá trị của Bác”.(9)
Ở đây tôi muốn nói tới khía cạnh ân tình, nhân nghĩa của một
lãnh tụ với một công dân. Với Bác, ít khi chịu nhận quà của người lao động gửi
tặng. Và khi đã nhận, dù món quà nhỏ cũng luôn gửi lời cảm ơn người tặng.
- Nếu một người Tàu đóng thế như họ nói, liệu người đó có yêu
đất nước Việt Nam và hy sinh cả cuộc đời cho dân tộc Việt này không ? Tôi nói
là không.
- Nếu là một người đóng thế như họ nói, liệu có tiết kiệm từng
đồng từng cắc, phải đi dép lốp, mặc áo vá, ở nhà như người dân, không dùng máy
điều hòa để giảm nhiệt, không chịu cho ai đón rước, đãi tiệc khi về thăm vì sợ
tốn kém của nhân dân không ? Tôi nói là không.
- Liệu có người Trung Quốc đóng thế mà dạy nhân dân đừng dùng từ
ngữ Hán, phải dùng tiếng Việt khi chữ đó ta có để thể hiện độc lập dân tộc
không ? Chắc là người Tàu họ sẽ không làm thế. Tôi khẳng định như vậy.
- Liệu là người Tàu đóng thế họ có viết Việt Nam lịch sử diễn ca
để người dân dễ học dễ thuộc, nhắc nhỡ mọi người Việt: “Dân ta phải biết sử
ta…”, ca ngợi cha ông từng chiến thắng quân Tống, Nguyên, Minh, Thanh không ?
Chắc chắn là không.
- Những món ăn Bác Hồ thích nhất là món cà dằm tương xứ Nghệ đạm
bạc thời còn nhỏ khổ cực đã quen. Người không thích ăn những món cao sang, tốn
kém. Liệu ai đó đóng thế có thể làm được chuyện ăn uống ấy không ? Tôi nói là
không.
4.- Tình yêu nhân dân, đất nước của Hồ Chí Minh:
- Hồ Chí Minh là người yêu nước Việt Nam nhất trong những
người yêu nước. Khi Pháp trở lại xâm chiếm Nam bộ lần nữa sau Tổng khởi nghĩa
1945, Người đã viết thư cho quân dân Nam bộ: “Nam bộ là máu của máu Việt
Nam, là thịt của thịt Việt Nam, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý
ấy quyết không bao giờ thay đổi ”.
- Hồ Chí Minh có tình yêu thương con người, đồng cảm với nỗi khổ
nhân dân sâu sắc, vượt trên nhiều người. Bác từng nói: Chủ tịch nước mà mặc áo
vá là hạnh phúc cho dân. Bác cũng nói : Chủ tịch một nước còn nghèo, chưa có
quyền hưởng thụ quá mức trung bình của người dân. Chính vì vậy suốt đời Người
không chịu dùng bất cứ thứ gì có tính xa xỉ, cao sang hơn người dân từ ăn, ở
mặc, phương tiện đi lại…
- Hồ Chí Minh có tấm lòng bao dung với mọi người, kể cả họ là kẻ
thù khi đã thất trận. Chính trong Chiến dịch Biên giới Bác Hồ đã dặn cán bộ ta
lo cho sĩ quan, binh lính Pháp bị bắt làm tù binh ăn uống, điều trị thương tích
cho chu đáo để họ thấy cuộc chiến của ta có chính nghĩa. Chính Người đã cỡi áo
khoát đưa cho một sĩ quan bị bắt làm tù binh ở Mặt trận Biên giới.Về sau trong
chiến tranh chống Mỹ, Bác cũng dành cho tù binh Mỹ tiêu chuẩn cao hơn người của
ta, vì hiểu người Mỹ to con cần nhiều calo hơn.
- Hồ Chí Minh có tư tưởng đoàn kết mọi người hơn ai hết. Đó là
Người đã thừa kế truyền thống cha ông, Hội nghị Diên Hồng thời Trần là tiêu
biểu quyết tâm của một dân tộc kết lại để có đủ sức mạnh chống quân thù. Hồ Chí
Minh hiểu rõ có đoàn kết mới có thêm nhiều người bạn, thêm sức mạnh, dù họ dân
tộc nào, ở đâu nếu là người cũng bị áp bức đều là bạn: “Quan san muôn dặm
một nhà/ Bốn phương vô sản đều là anh em”.
Nếu Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc sẽ không có những
phẩm chất tuyệt vời nói trên. Chỉ có Nguyễn Tất Thành là người từng chịu cảnh
nghèo khổ, mẹ mất sớm, em không có sữa cũng chết sau mẹ mấy tháng. Chỉ có
Nguyễn Tất Thành mới được thừa hưởng sự dạy dỗ của cha, của thầy…và từng nghe
cha đàm đạo với các nhà cách mạng như Phan Bội Châu. Chỉ có Nguyễn Tất Thành
mới thấm thía nổi đau của người dân mất nước nên dù còn nhỏ đã cùng anh là
Nguyễn Tất Đạt tham gia biểu tình chống thu thuế năm 1908 ở Huế và bị đuổi học,
ảnh hưởng đến cha bị chuyển đi làm tri huyện Bình Khê.
Ông Hồ Tuấn Hùng, một người Đài Loan viết cuốn sách “Hồ Chí Minh
Bình Sinh Khảo” nói Hồ Chí Minh là người Trung Quốc này, có ý gì ?
Một là, Hồ Tuấn Hùng là một người nông cạn trong nghiên cứu một
nhân vật thuộc hàng vĩ nhân của thế giới, vội vàng đưa ra nhận định khi chưa
tìm hiểu đầy đủ về đối tượng nghiên cứu.
Hai là, ông ta viết sách có dụng ý xấu, bịa đặt những điều sai sự thật
để hòng làm giảm uy tín của một lãnh tụ mà nhân dân Việt Nam và rất nhiều chính
khách, học giả các nước tôn vinh.
Ba là, có ai đó thuê mướn ông ta viết cuốn sách này để gây hoang mang
ở một số người, chống lại một biểu tượng cao quý mà toàn Đảng, toàn dân Việt
nam đang tôn kính, học tập và làm theo đạo đức của Người.
Từ cuốn sách này của Hồ Tuấn Hùng đã gợi ý cho một số kẻ chống
Cộng viết, làm phim xuyên tạc về Hồ Chí Minh. Việc làm của ông Hồ Tuấn Hùng -
và những người khác - đã gây phẩn nộ trong những người dân Việt Nam vốn yêu quý
Bác Hồ.
Những tư liệu tôi nêu trên đây có cơ sở chắc chắn, được rút ra
từ những cuốn sách, những tài liệu đã được các nhà nghiên cứu thẩm định kỹ,
hoàn toàn chính xác.
Để kết thúc bài viết này xin trích Diễn văn của Ban Chấp hành
Trung ương Đảng Lao động Việt Nam do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất đọc tại
Lễ truy điệu trọng thể Hồ Chủ tịch, ngày 9 tháng 9 năm 1969. Đây là văn kiện vô
cùng quan trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định và tôn vinh Hồ Chí
Minh.
“Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta
đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm
rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta”.
(Kỷ niệm lần thứ 124 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí
Minh, 19.5.1890-
19.5.2014).
NGUYỄN XUÂN BA
Chú thích của tác giả:
Tôi không chép Tiểu sử Chủ tịch Hồ Chí Minh ở đây. Vì như vậy sẽ
làm cho bài viết quá dài. Ngày nay, việc tìm đọc tiểu sử của Bác không
khó, có thể tìm sách hoặc vào mạng là có ngay.
1. Theo sách Chủ tịch Hồ Chí Minh với xây dựng Đảng, NXB
Thanh Niên, xuất bản Quý 3 năm 2008, trang 23.
2. Theo sách Nguyễn Ái Quốc trên đường về nước của Hoàng Thanh
Đạm, NXB Thanh Niên xuất bản Quý 3 năm 2008, trang 141-142.
2A. Sách đã dẫn (2), trang 149.
______________
Bài đọc thêm:
- Vụ án Nguyễn Ái Quốc ở Hồng
Kông năm 1931- Bùi Quang Minh (tổng hợp)- Chungta.com Thứ sáu,
24/06/2011
- Luật sư Lô-dơ-bi kể chuyện bào
chữa cho Hồ Chủ tịch - http://kiemsat.vn ngày 10/10/2017 09:58
PHỤ ĐÍNH 1:
Bài trích hồi ký của Archimedes Patti
trong cuốn "Hồ Chí Minh với nhân tài
và kiến quốc," nhiều tác giả, Nxb Quân đội nhân dân phát hành năm 2008.
Archimedes Patti. Ảnh từ video
https://www.youtube.com/watch?v=fFkIQYe0l1Y
Patti, sĩ quan tình báo Mỹ OSS đóng ở Trung Quốc trong thế chiến
thứ 2, biết rõ Bác Hồ:
Hồi ký của Pat-ti viết:
“...Không do dự, ông Hồ đáp ngay có thể hợp tác được, vì ông
Phạm Viết Tử đã tiếp xúc với Lãnh sự quán ở Côn Minh và trên thực tế AGAS và
Việt Minh đang tổ chức mọi hoạt động bí mật để cứu giúp các phi công Mỹ
bị bắn rơi trên đất Việt Nam. Nhưng ông nghĩ rằng, trước hết ông muốn nói
tới những cộng sự của phía Mỹ chúng tôi. Ông muốn biết làm thế nào mà tôi
lại được biết về Việt Minh và hơn nữa về ông. Tôi nói thẳng thắn và vắn
tắt là từ ngày còn ở Oa-sinh-tơn tôi đã nghe tin ông bị Quốc dân đảng Trung
Quốc bắt giam, ông làm việc trong Đồng minh hội, ông cộng tác với Đồng minh để
cứu những phi công bị rơi. Tất nhiên tôi nói đến cả cuộc nói chuyện giữa tôi và
Phương...”
Pat-ti viết tiếp:
"Sau cuộc gặp ông Hồ vào tháng 4 tôi đã nghiên cứu kỹ
phong trào Việt Minh, tôi tin chắc đây là một phong trào thật sự năng động và
nhất định sẽ giành thắng lợi. Dựa trên cơ sở vững chắc, tôi xác định Việt Minh
đã được ủng hộ của dân chúng. Vì vậy, trong các báo cáo gửi cho cấp trên cho Bộ
Tư lệnh quân sự Mỹ và cho Đại sứ Mỹ ở Trung Quốc, tôi đã kịch liệt bác bỏ những
luận điệu của Pháp cho rằng Đông Dương không có phong trào thật sự đấu tranh
giành độc lập và đây chỉ là một số ít những tên "cộng sản vô tổ chức"
hoặc cho rằng "người bản xứ" vẫn trung thành với Pháp, dân chúng vẫn
mong người Pháp quay trở lại.
Qua những người Việt Nam ở Côn Minh, tôi được
biết ông Hồ đã hoạt động 25 năm ở nước ngoài. Trong thời gian đó, ông đã hấp
thụ chủ nghĩa Mác - Lênin và tự lĩnh nhiệm vụ tập hợp các nhóm dân tộc khác
nhau vào tổ chức Việt Nam độc lập đồng minh. Biết rõ sự nghèo nàn về kinh tế xã
hội của Việt Nam, đầu tiên ông Hồ đề nghị gạt các lợi ích cục bộ và giai cấp
sang một bên, để tập trung vào nhiệm vụ đấu tranh giành độc lập tự do, chống
chủ nghĩa thực dân...”
_____________________
PHỤ ĐÍNH 2:
Chuyện ông cả Khiêm thăm Bác Hồ.
(Theo sách "Chuyện kể bên mộ bà
Hoàng Thị Loan" và một số sách khác)
"Tháng 11-1946, ông Cả Khiêm (anh ruột của Bác Hồ) cùng hai
người cháu là Hồ Quang Chính và Nguyễn Sinh Thọ đến Bắc Bộ phủ thăm Bác Hồ. Ba
ông cháu được các cán bộ giúp việc ở Bắc Bộ phủ mời lên tầng hai ngồi đợi ở
phòng bên, kế phòng Bác Hồ làm việc.
Khoảng 10 phút sau, lúc gần 11 giờ 30 phút (ngày 3-11-1946) cánh
cửa phòng từ từ mở. bác Hồ vẫn đôi mắt sáng ngời và hiền từ, trong bộ kaki vàng
bạc màu, đi thẳng về phía ba ông cháu. Ông cả Khiêm chạy lại ôm chầm lấy Bác
Hồ, nét mặt cảm động và giọng cười hoan khoái. Ông hỏi:
- Chú, chú Cung, chú có khỏe không? Anh em
mình xa nhau lâu quá!
Chòm râu của Bác Hồ rung rung vào má ông Khiêm, nét mặt Bác Hồ
rất cảm động, nhưng vui tươi, Bác hỏi:
- Anh mới ra, anh khỏe không? Quý hóa quá...
Bác hỏi thăm bà Thanh về quê ra sao rồi mời ông Khiêm hút thuốc
lá. Ông Khiêm huơ tay không nhận:
- Tôi hút thuốc Cẩm Lệ quen rồi, thuốc đó nhẹ
để chú dùng.
Bác Hồ cười và đọc một câu thơ:
"Chốc đà mấy chục năm trời
Còn non, còn nước, còn người hôm nay".
Ông Khiêm nói:
- Hôm nay ông cháu đến thăm chú, tôi mang biếu
chú ít quả cam Xã Đoài.
Bác Hồ cười vui. Người chớp chớp mắt, yên lặng và hỏi anh mình
về tình hình Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên - Huế, huyện Nam Đàn quê hương, về
hoạt động của các chính quyền và các đoàn thể ở địa phương. Bác hỏi thăm đời
sống, công việc của một số người thân và bạn bè hồi niên thiếu của Bác. Ông cả
Khiêm lần lượt trả lời và nói:
- Chú đi lâu mà chú nhớ tài thế?
Liền đó, Bác Hồ hỏi ông Khiêm:
- Anh có còn nhớ chuyện Khơm Công không?
Và Người nói luôn:
- Chẳng những mình Khơm Công mà hàng chục
triệu đồng bào hồi đó cũng "khơm công".
"Khơm Công" là tên ông Khiêm và Bác Hồ từ bé, nói
chệch đi một tý theo giọng địa phương là Khơm và Công. "khơm Công"
nói lái là "không cơm", ý nói thời niên thiếu của Bác và gia đình cụ
Phó bảng Sắc túng thiếu.
Ông cả Khiêm hỏi Bác Hồ:
- Chú có ý định lúc nào về thăm quê?
Bác Hồ thong thả trả lời:
- Về đây cũng là về đến nhà rồi, tình hình và công việc thế này
chưa cho phép nghĩ tới, chắc việc đó còn lâu.
Đúng như lời dự đoán của Bác Hồ, mãi 11 năm sau, cũng là ngày
chủ nhật (16-5-1957), Bác Hồ mới trở về thăm quê lần đầu tiên".
(Theo sách "Chuyện kể bên mộ bà Hoàng Thị
Loan" và một số sách khác).
Bác Hồ về thăm lại ngôi nhà xưa ở làng Kim
Liên trong lần đầu về thăm quê sau 51 năm xa cách (ngày 16/6/1957). Ảnh https://baonghean.vn/



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét