BIẾT ĐỂ HIỂU VÀ TỰ HÀO VỀ TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC

Cãi chày, cãi cối với… cái chày, cái cối!



Chày cối Việt Nam có mặt liên tục suốt từ thời các vua Hùng cho đến tận ngày nay. Sinh sống ở thôn quê hay tỉnh thành, hầu như nhà nào cũng đã có lúc có chày cối. Giã gạo, xay bột, giã giò, giã cua. Làm bánh, nấu chè, bếp núc… Không có chày cối thì không xong.
Cãi chày, cãi cối với… cái chày, cái cối!
Giã gạo (1884)
Chày cối được cất trong nhà, được rước ra sân đình. Chày cối có mặt tại hội hè, cưới xin, tang ma. Buồn vui cùng mọi người.

Chày cối quấn quýt bên nhau. Chung thủy một chày một cối. Hợp tác làm ăn. Đâu cần thì gọi, chày cối ra tay giã cho một trận là đâu vào đấy.

Nhưng cũng có lúc chày cối bị chia lìa. Anh đường anh, tôi đường tôi. Mạnh ai nấy sống.

Làm bánh dày chẳng hạn. Chỉ cần trải xôi trên chiếc chiếu buồm dấp ướt, dùng chày cũng bịt chiếu buồm mà giã. Không cần cối.

Ngược lại, xay thóc xay gạo hay xay bột thì chỉ có cối, không cần chày.

Giã giò là trường hợp đặc biệt hiếm có. Một cối hai chày!

Chày cối được chia thành đẳng cấp. Ăn chắc mặc bền có cối đá. Phần đông dùng cối gỗ. Ăn xó mó niêu thì cối đất cũng xong. Chày giã thông thường là chày gỗ. Trừ chày tre của dân nghèo và chày đá của một vài ông lang.

Đại khái, có mấy loại chày cối lớn nhỏ khác nhau: - Lớn nhất, cồng kềnh nhất là cối giã gạo.

Giã ơn cái cối cái chày
Đêm khuya giã gạo có mày có tao
Giã ơn cái nhịp cầu ao
Đêm khuya giã gạo có tao có mày. 


Cối chôn dưới đất. Chày được lắp vào đầu một cần gỗ dài hai ba thước. Cần rất nặng, người giã gạo phải đứng lên cần, dùng tất cả sức nặng của thân hình để điều khiển cho cần chuyển động lên xuống. Ai cũng… ngại giã gạo một mình. Nhiều người cùng giã thì… vui hơn, đỡ mệt hơn!

- Làng An Thái làm giấy cũng dùng một loại cối lớn cồng kềnh khác để giã vỏ dó.

«Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Nhịp chày An Thái, mặt gương Tây hồ» 


Dân làng giã dó bằng chày máy «xanh sạch đẹp». Vận dụng sức bật của một cành tre để nâng chày lên cao.

- Cối giã giò nhỏ hơn hai loại cối trên. Lòng cối khá sâu, rộng. Giã giò phải là dân «vai u thịt bắp» mới kham nổi. Cả ngày cởi trần «đánh vật», hai tay «múa» hai cái chày nặng chình chịch.

Giã giò con cò biết bay

Xương xông, lá lốt làm chay cho cò.

Câu ca dao mới nghe thấy ngộ nghĩnh, thậm chí tưởng là có mâu thuẫn. Giã giò để làm chay cho cò. Dùng đồ mặn để cúng chay à?

Chữ chay (Việt) là do chữ trai (Hán) mà ra. Trai nghĩa là ăn chay. Trai tăng là thầy tu ăn chay.

Chữ trai còn có thêm một nghĩa khác. Trai tiếu là sư làm đàn cầu cúng (Hán Việt từ điển Đào Duy Anh). (Hán Việt tự điển Thiều Chửu chép là chai, chai tiếu).

Làm chay của câu ca dao được hiểu theo nghĩa là làm đàn cầu cúng. Nôm na là làm cỗ cúng. Cỗ cúng của dân gian có thể là cỗ mặn, không bắt buộc phải là cỗ chay.

- Cối giã cua, giã vừng, bếp núc hàng ngày tương đối nhỏ, lòng cối chỉ bằng cái bát ăn cơm. Cối bằng đá hay gỗ.

- Nhỏ nhất là cối giã trầu bằng bạc, bằng thau của các cụ nhà giàu. Cối bỏ túi, cất trong hầu bao, đi chơi mang theo được.

Tháng ngày thấm thoắt tựa chim bay
Ông gẫm mình ông, nghĩ cũng hay.
Mái tóc chòm xanh, chòm lốm đốm,
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay.
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say.
Còn một nỗi này thêm chán ngắt,
Đi đâu dở những cối cùng chày.
              (Nguyễn Khuyến, Than già)

Chày cối của tín ngưỡng, phong tục 

Chức năng của chày cối là đâm, giã, nghiền, xay. Ngoài chuyện phục vụ đời sống hàng ngày, chày cối còn có mặt trong vài tình huống đặc biệt:

Thời Hùng Vương, nhà nào có người chết thì lấy chày cối ra giã để báo tin buồn với làng xóm. Một cách loan báo như loa phát tin của phường xóm bây giờ.

Chày cối được tín ngưỡng phồn thực dùng làm biểu tượng của sinh thực khí đực (chày) và cái (cối). Giã cối tượng trưng hành động trai gái giao phối.

Hội làng được chày cối chủ trì, giúp vui hoạt náo. Giã cối tạo âm thanh rộn ràng, động tác gợi cảm. Kích thích, khuyến khích trai gái múa hát, tỏ tình(1).

Đời sau, không biết từ bao giờ, tín ngưỡng phồn thực chày cối bị nõn nường thay thế. Nõn (sinh thực khí nam) nường (sinh thực khí nữ) rất trần tục, trần trụi.

Một vài làng xã miền Bắc “quá khích”, cử 18 cặp trai gái rước ba mươi sáu cái nõn nường. Đám rước được một cụ giàu kinh nghiệm bản thân dẫn đầu. Cụ biểu diễn cảnh nõn nường quấn quýt nhau. Đâm vào, rút ra. Trai gái theo sau múa theo cụ. Dân làng ai cũng thích xem rước nõn nường.

Có người chế diễu: 36 cái nõn nường, cái để đầu giường là 37.
Đón dâu ngoài cổng
Tranh dân gian Oger (1908) có tấm Đón dâu ngoài cổng cho thấy tục giã cối còn có mặt cả trong lễ cưới và tục này còn tồn tại ở một số làng đến tận đầu thế kỉ 20.

Hôm làm lễ rước dâu, nhà trai cho đặt sẵn một bộ chày cối trước cổng. Chờ lúc họ nhà gái đến gần thì sai người giã cối đón mừng cô dâu. Giã cối tạo tiếng vang rộn rã, đồng thời chúc cô dâu sớm có “con bồng con bế” cho vui cửa vui nhà.

Tấm tranh Oger kín đáo, dí dỏm cho biết nhà trai mong muốn cô dâu chú rể hạnh phúc đến độ… chày hăng say đâm vỡ cả cối, chảy cả nước!

Chày cối trong văn học 

Bài Phú đồ ngông của Nguyễn Khuyến có câu:

Lương nguyệt đốn lại nài nhất đệ, bàn mỏng bàn dày;
Tiền hương khoa toan bổ đồng môn, thu chày thu cối 

Có thể phỏng đoán là Nguyễn Khuyến làm bài Phú đồ ngông trong khoảng thời gian cụ ngồi dạy học,mô tê răng rứa, trong dinh riêng của Hoàng Cao Khải, vào những năm 1891 - 1893(2).

Ngoài Nguyễn Khuyến ra, vài tác giả (khuyết danh) khác cũng nói đến chày cối. 

Sách Văn đàn bảo giám có bài Lạc đệ phú, trong đó có đoạn:

Văn làm tối như mực, đặc như bí, kiếm chác lều kia lều nọ, hỏi một hỏi hai.
Sách quên đặc như thuổng, tối như đêm, nghe hơi câu được câu chăng, viết chày viết cối(3).

Bài Lạc đệ phú còn được chép dưới tựa đề Thi hỏng tự cười mình:

Văn làm thì đặc như bí, dai như đỉa, chạy lều này sang lều khác, vi nhất vi nhị;
Sách thì quên, tối như hũ, mờ như đêm, nghe câu được câu chăng, viết chày viết cối(4).

Bài phú được làm năm nào?

Có thể dựa vào câu Thuốc Bách tính, đóm diêm (bao diêm), điếu ống... để đoán.

Diêm là tiếng Bắc (trong Nam gọi là quẹt). Ngoài Bắc có diêm từ bao giờ?

Có từ ngày:

Em là con gái nhà Diêm 
Đến tháng lĩnh tiền được bốn đồng hai
Một đồng em để cho giai
Hai đồng cho mẹ, đồng hai ăn quà.
                (Ca dao ngạn ngữ Hà Nội)

Nhà Diêm là nhà máy làm diêm (Manufacture d’allumettes) của Pháp tại Hà Nội, nằm tại địa điểm nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo sau này. Diêm và bao diêm chỉ có sau khi Pháp đặt nền bảo hộ Bắc kỳ (1884).

Bài phú Lạc đệ hay Thi hỏng tự cười mình được sáng tác sau năm 1884.

Chày cối có mặt trong nhiều bài phú, bài vè khác:

Nghề sách mít, lộn phèo lộn phổi, sáo mép chính văn, tập chú, lít nhít lăng nhăng
Giọng văn cùn, viết cối viết chày, múa mồm hậu cổ, tiền đề, lơ chơ lỏng chỏng.
                                    (Khuyết danh, Hỏng thi)

Búi tóc chặt, gật chày gật cối, tát cũng đành dù đem giam trói cũng đành
Trơ mặt dày, đeo mẹt đeo mo, rủa càng mát dẫu bắt lột trần cũng mát
                                    (Khuyết danh, Răn cờ bạc)

Vua Tự Đức bắt dân xây thành, đào hào. Nhân dân ta thán, oán trách nhà vua. Có người bỏ trốn. Bị bắt, bị đánh.

Lạy cao lạy thấp
Lạy cối lạy chày 
Chúng chẳng tha ngay
Máu bết đầy roi vọt.
             (Khuyết danh, Cái thời Tự Đức)

Thành ngữ có chày cối xuất hiện từ bao giờ?

Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của (1895) có chày, có cối nhưng chưa có thành ngữ nào đả động tới chày cối.

Dictionnaire annamite-français
 của Génibrel (1898) có chày. Có Cứng cổ như chày. Rắn như chày. Có cảchầy (cái chày của người Bắc). Vắt cổ chầy ra nước. Chịu chầy chịu cối. Khất chầy khất cối.

Dictionnaire vietnamien-chinois-français
 của Gustave Hue (1937) cũng có chầy. Khất chầy khất cối. Nhận chầy nhận cối cho xong việc. Sách khó, đọc chầy đọc cối.

Nếu đúng là bài Phú đồ ngông được làm năm 1891 - 1893 thì có thể khẳng định cụ Nguyễn Khuyến là người đầu tiên đưa chày cối vào văn học. Thành ngữ thu chày thu cối đã mở đường dọn lối cho một loạt thành ngữ chày cối của những năm sau.

Tiếng Việt ngày nay có:

- Đầu như cối chày máy: Giễu những kẻ hay bị người ta đánh vào đầu (Nguyễn Lân, Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam).

Giải thích của Nguyễn Lân hơi bất ngờ.

Đầu như cối chày máy là hình ảnh cái đầu gật gù, cúi xuống ngẩng lên như cái chày giã gạo ngày xưa. Câu nói ám chỉ những kẻ có thói quen gật đầu như cái máy. Một thời được dùng để ám chỉ mấy ông…nghị gật!

- Khất chày khất cối: nói người có nợ không trả được, chỉ hẹn liều hết lần này đến lần khác (Nguyễn Lân).

- Cãi chày cãi cối: chê người cãi liều, không có lí lẽ thích đáng (Nguyễn Lân). Cố cãi, cãi bừa một cách không có lí lẽ gì cả (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê).

- Chịu chày, chịu cối: Chê kẻ có nợ không chịu trả (Nguyễn Lân).

Nhưng, thu chày thu cối của Nguyễn Khuyến nghĩa là gì? Tại sao Nguyễn Khuyến không viết chầy cối mà lại viết chày cối?

Nội dung mấy thành ngữ được nêu ra cho thấy chày cối có hai nghĩa khác nhau.

- Nghĩa thứ nhất là nghĩa đen, mô tả rõ ràng động tác của cái chày máy giã gạo.

Lạy chày (lạy cối) và Đầu như (cối) chày máy mô tả cái đầu cúi xuống ngẩng lên giống cái chày máy.

Còn cối? Cái cối không biết cử động. Không có ai lạy (như) cối, không có đầu nào là đầu (gật gù) như cối. 

Sở dĩ người ta đưa cối vào câu nói là vì câu nói có chày. Tưởng là làm như thế câu nói sẽ du dương hơn. Không ngờ lại ngọng nghịu, khó nghe.

- Nghĩa thứ hai của chày cối là nghĩa bóng, không dính dáng gì với cái chày cái cối.

Thu chày thu cối, viết chày viết cối, chịu chày chịu cối, cãi chày cãi cối, khất chày khất cối… tất cả đều xa lạ với chày cối dùng để đâm giã xay nghiền.

Nghĩa bóng của chày cối là liều lĩnh, không có lí sự. Thí dụ: Làm chày làm cối. Nói chày nói cối. Được cãi chày, thua cãi cối (Việt Nam tự điển, Khai Trí Tiến Đức, 1931).

Nhưng, xét cho kĩ thì thu chày thu cối, chịu chày chịu cối, khất chày khất cối không phải là hành động liều lĩnh, không có lí sự. Nghĩa bóng của Việt Nam tự điển không đúng cho mấy trường hợp này.

Cần phải đem chày cối, cụ thể là thu chày thu cối của Nguyễn Khuyến ra bàn thêm.

Tiếng Việt có chầy và cố. 

- Chầy là muộn, chậm, lâu, dài.

Lâm Chi đường bộ tháng chầy.

Năm chầy, tháng chẳng bao lâu mà chầy (Kiều).

Không chóng thì chầy đồng nghĩa với Không sớm thì muộn.

- Cố là gắng sức, đưa sức ra nhiều hơn bình thường để làm việc gì cho kì được.

Cố nhớ. Ăn cố. Cố đấm ăn xôi. 

Người Bắc gọi cái chày là chầy. Chầy (cối) đồng âm với chầy (lâu, dài).

Từ ngày cái chày (viết bằng chữ quốc ngữ) của Huỳnh Tịnh Của và Génibrel được công nhận thì cái chầybị xếp vào hàng phương ngữ.

Chầy được viết là chày. Thậm chí chầy (lâu, chậm) cũng viết là chày.

Câu văn của Nguyễn Khuyến (bằng chữ nôm) bị diễn dịch sai sang chữ quốc ngữ.

Thu chầy (thu lâu, thu dai dẳng) bị nhầm thành thu chày (thu như… cái chày!).

 chày thì phải có cối. Có thu chày thì chỉ cần lôi cổ thu cố (cố thu cho bằng được) ra sửa sai… thànhthu cối (thu như… cái cối!).

Rốt cuộc, thu chầy thu cố (nghĩa là thu lâu, cố thu) bị hiểu sai, bị chữa bậy thành thu chày thu cối (nghĩa là… không có nghĩa).

Oan cho cụ Nguyễn Khuyến. Văn nôm của cụ bị đám học trò học trẹt sửa sai thành sai bét.

Tất cả chày, cối của các thành ngữ khác như viết chày viết cối (cố viết cho nhiều), khất chày khất cối (cố khất lần cho qua), đọc chầy đọc cối (đọc chậm, cố gắng đọc)… đều là biến dạng của chầy, cố.

Chày cối vốn là đồ dùng hàng ngày quen thuộc của người Việt Nam. Chày cối sánh đôi. Giản dị, trong sáng. Không lôi thôi như sách vở, văn chương.

Từ ngày Pháp xâm chiếm nước ta, ta có thêm hai cái cối ấn tượng. Cái súng cối và cái mũ cối của thực dân. Súng cối là súng mortier gây nhiều tội ác (mortier cũng có nghĩa là cái cối). Mũ cối hay mũ cát(casque) bị ta đồng hóa dễ dàng.

Thế kỉ 21…

Nhà nhà dùng máy xay điện. Xay cà phê, xay thịt, xay trái cây… Dao quay tít mù. Nháy mắt là xong. Chày cối có nguy cơ bị xóa sổ.

- Còn lâu mới hết hứa chày hứa cối, tán chày tán cối.

Lyon, 8/2014 
N.D
(SDB14/09-14)

-----------------
(1) Văn Tân, Thời đại Hùng Vương, Khoa Học Xã Hội, 1976.
(2) Thơ văn Nguyễn Khuyến, Văn Học, 1971, tr. 13.
(3) Trần Trung Viên, Văn đàn bảo giám, Mặc Lâm tái bản, 1968, tr. 185.
(4) Phong Châu, Nguyễn Văn Phú, Phú Việt Nam cổ và kim, Văn Hóa, 1960, tr. 350.  

(Sưu tầm bài viết của tác giả NGUYỄN DƯ  từ trang http://www.tapchisonghuong.com.vn)

BIẾT VÀ HIỂU ĐỂ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA DÂN TỘC

Nhàn đàm về “dâm trường” và “hôn trường”


Nhàn đàm về “dâm trường” và “hôn trường”
Ảnh: internet
GỢI CHUYỆN

Có một điều hơi là lạ, là mới đây nhân dịp ra mắt tác phẩm mới Lá trúc che ngang - Chuyện tình của cô tôi của tác giả Hoàng Thị Quỳnh Hoa vào lúc 15 giờ 30 ngày 14/9/2013 tại Trung tâm Văn hóa Phương Nam, 15 Lê Lợi Huế, thính giả lại được nghe thuật ngữ “dâm trường” của một thầy giáo nào đó vì thiếu thực tế cho nên đã lên mặt báo gọi thôn Vỹ(1) là này, là nọ. Người xưa nói “Ai dám bảo chữ dâm đã bậy/ Không dâm sao lại đẻ ra hiền”. Bên ngoài dân gian mà ai đó đã ghép chữ hai từ “dâm” và “trường” đi đôi với nhau để thay thế sự tích Bình Khang(2) là bất ổn. Có lẽ ở chốn thi đàn không mấy ai dùng thuật ngữ cũ mà “mới” mới ấy trước khán thính giả được chọn lựa mời tham dự mừng tác phẩm mới.

Trường hợp khá phổ biến hơn là trong lễ cưới, một thuật ngữ khác đã được dùng một cách tự nhiên như nhiên giữa thanh thiên bạch nhật. Đó là thuật ngữ “hôn trường”. Nghe mà ngờ ngợ xót xa và xôn xao. Khách nước ngoài tham dự các lễ ấy chắc rằng họ sẽ phân vân không biết phải dịch sao cho tương đối chuẩn mực ra ngôn ngữ nước ngoài.

Tra các từ điển Hán Việt thông dụng của các học giả uy tín, tuyệt nhiên chúng tôi không tìm thấy các thuật ngữ “hôn trường”, “dâm trường”. Điều này chứng tỏ các danh từ ấy mới ra đời vào khoảng những 20 năm trở lại. Ngôn ngữ tự phát theo lối “sính chữ” để kinh doanh như vô tình đã làm giảm đi những nét đặc sắc và phong phú của tiếng Việt có giá trị vừa hàn lâm vừa công pháp sánh cùng các ngoại ngữ như Anh, Pháp, Nga, Hoa... đang thịnh hành.

Còn nhớ, rõ và đúng một ngày sau ngày 28/01/1973, hòa bình được lập lại, tiếng Việt được thế giới thừa nhận, công nhận có giá trị ngang hàng với các ngôn ngữ của các nước vừa kể trong các văn kiện pháp định của công pháp quốc tế.

I. CHỮ “DÂM” VÀ CÁC THUẬT NGỮ LIÊN QUAN KHÁC

1.1. Chữ “dâm” 

Từ Hán Việt đã được viết và gọi mưa dầm là “dâm vũ” (淫雨). Vũ là mưa. Cái gì quá lắm đều được gọi là “dâm” (淫). Hình phạt khắc nghiệt, man rợ được gọi là “dâm hình” (淫刑). Kết bạn với người xấu tính là không nên. Từ Hán Việt nói và gọi người bạn bất chính là “dâm bằng” (淫朋).

Từ “dâm” còn có nghĩa là “động; mê hoặc”. Câu nói của Mạnh Tử “Phú quý bất năng dâm” (富貴不能 淫) có nghĩa “giàu sang không làm động nổi người”.

1.2. Các thuật ngữ liên quan 

“Dâm” còn có nghĩa là quá chừng. Dâm dục = lòng tà dâm. Học giả Đào Duy Anh cho biết “dâm tự” (淫祀) có nghĩa là miếu thờ thần không chính đáng. Thiều Chửu lại viết “dâm từ” (淫祠) có nghĩa là đền thờ “dâm thần”. Dâm thần là vị thần không chính đáng chớ không hẳn là vị thần hoang dâm. Hai thuật ngữ dâm từ hoặc dâm tự đồng nghĩa. Đồng âm với dâm từ (淫祠) có thuật ngữ dâm từ (淫辭), dịch ra tiếng Pháp là paroles obscenes. Từ là lời nói; dâm từ thì thô dục, kích dâm. Thế gian thường răn dạy con cháu: tai dừng nghe những dâm từ không hay. Thưởng thức âm nhạc thì người xưa khuyên chớ nghe những giọng điệu dâm thanh. Xã hội lên án những màn trình diễn âm nhạc kích dục, những bài hát nhép vớ vẩn và nhất là cách phục sức của nghệ sĩ nửa kín nửa hở, múa may quay cuồng lố lăng mang tính cách câu khách bằng con đường không chính đáng: kích dục.

1.3. Không thể nào đặt ra từ mới tùy tiện 

Trong từ điển thông dụng không có thuật ngữ dâm trường (淫場). Chữ “trường” (場) còn có nghĩa khu đất bằng phẳng, thoáng rộng như quảng trường Phu Văn Lâu, trường thi Phú Xuân(3) chẳng hạn. Không mấy ai gọi không gian tổ chức tiệc cưới, nơi cư trú của kỹ nữ ngày xưa là “trường” bao giờ. Phịa chữ nghĩa theo lối nói tếu, nói đùa giữa tay hai, tay ba để giết thời gian một cách oan uổng mà thôi.

II. HÔN TRƯỜNG

Trong ứng xử theo 4 lễ lớn ngày xưa của đời người hôn, quan, tang, tế thì không ai gọi chốn trang nghiêm là “trường” cả. Có “hôn trường”, thì lẽ nào không có “tang trường”, “tế trường”...

Quan là lễ đội mũ cho con trai đến tuổi trưởng thành thể hiện mong cầu con trai ở tuổi trưởng thành lớn lên theo năm tháng sẽ có sự nghiệp tỏ rõ thỏa nguyện thực hiện chí nam nhi: Trai thời trung hiếu làm đầu(Lục Vân Tiên).

Nguyễn Công Trứ đã từng viết: Chí làm trai Nam Bắc Đông Tây/ Cho thỏa sức vẫy vùng trong bốn biển. 

2.1. Hôn nhân 

Hai nhà kết tình thông gia được gọi là hôn nhân. Việc con trai lấy vợ được gọi là “thú” theo thuật ngữ Hán Việt. Thú (娶) nghĩa là: lấy vợ. Con gái đến tuổi trưởng thành đi lấy chồng gọi là “giá” (嫁). Cheo làng cưới họ, giấy giá thú (嫁娶) là văn bản pháp quy, quy định được gọi là khế ước kết hôn (contrat de mariage).

Cha vợ là hôn (婚), cha chồng là nhân (姻). Nhân là nhà rể, hôn là nhà gái. Nhà trai, nhà gái gọi nhau là nhân. Thời cổ đại, thanh nữ 20 tuổi thì đi lấy chồng như kinh Lễ đã định. Đó là nét tiến bộ hơn cả ngày nay. Nạn tảo hôn đã bị lễ giáo ngăn ngừa. Tác phẩm Nhị Độ Mai có câu: “Hôn nhân đã định về nơi họ Hàn

2.2. Hôn trường 

Đến đây thì dường như thuật ngữ “hôn trường” đã hé nụ bất ổn nghĩa lý về mặt cấu tạo từ mới. Hôn kỳ là định ngày để làm lễ kết hôn. Hôn lễ là lễ kết hôn giữa đôi trai gái, giữa họ nhà trai và họ nhà gái. Tiệc bày trong lễ kết hôn để đãi khách gọi là hôn yến.

Trong cưới hỏi thì “giàu làm kép, hẹp làm đơn”. Việc tiến hành lễ thành hôn tại nhà trai và lễ vu quy tại nhà gái là lễ trọng. Làm lễ cúng gia tiên trước sự chứng kiến, sự thừa nhận của hai họ trai và gái để tiến tới đích tiến hành thủ tục lập giấy hôn thú.

Xong lễ là tiệc mừng cưới tại nhà trai, nhà gái. Những nhà khá giả, có điều kiện tổ chức lễ chiêu đãi họ hàng, khách mời vào hôm trước ngày cử hành lễ Thành hôn hoặc lễ Vu quy.

Trong tiệc chiêu đãi tại nhà trai, nhà gái (chớ không phải tại nhà hàng, khách sạn) mà xướng ngôn “kính mời Quý khách, quý bà con nội ngoại, quý bằng hữu tiến vào hôn trường” là nghe ra bất ổn, nghe nó sao sao. Khó nói quá: “Nao nao sự thế nực cười./ Nhà ta sao gọi là nơi hôn trường

Nhà thơ Sãng Đình Nguyễn Hy Thích (1891 - 1979)(4) đã từng ngợi ca ngôi nhà của chúng ta đang ở:

Cái nhà là nhà của ta
Công khó cha ông làm ra
Cháu con phải gìn giữ lấy
Muôn năm với nước non nhà


Có tiền, có của, bỏ ra nhiều công sức để tổ chức lễ thành hôn hoặc vu quy cho con cái mình thành thất mà sao lại khờ dại đến mức thuê đội nhạc, thuê xướng ngôn đến nhà mình để họ gọi ngôi vườn nhà của mình đang ở là “hôn trường”. Bậy thật! và kể ra cũng ngụy thật.

LỜI KẾT

Hiện nay, chủ trương mới đang được đề cao là “giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc”, gìn vàng giữ ngọc là hoàn toàn đúng, hợp lòng dân, thu phục tâm công. Thiết nghĩ những gì còn mang tính cách “sính của”, “trưởng giả học làm sang” trong nghi lễ cưới hỏi, tang ma cần phải chấn chỉnh, chấn hưng. Nhất thiết không vọng ngoại, đi chệch hướng, sai căn cơ để phô trương một cách xa xỉ, cầu danh, cầu lợi, cầu lộc một cách vừa oan uổng vừa hoang tưởng.

L.Q.T
(SDB12/03-14)


-------------------------
(1) Thôn Vỹ ở Hữu ngạn sông Hương chảy qua kinh thành Huế xưa, cách ly bởi Đập Đá. Nguyên miền Vỹ Dã là cánh đồng lau trở thành thôn Vỹ Dạ, đây là xứ thơ mộng sản sinh nhiều nhà thơ nổi tiếng và là miền gái đẹp nết na, có đạo hạnh và lại học giỏi - Hàn Mặc Tử thầm yêu thiếu nữ Hoàng Thị Kim Cúc là cô ruột của tác giả Hoàng Thị Quỳnh Hoa. Kể từ giữa thế kỷ 19, thi bá Tuy Lý Vương về lập phủ đệ ở thôn Vỹ thì nơi đây nổi tiếng là đất thơ ở chốn kinh kỳ.

(2) Bình Khang: chổ các kỹ nữ ở. Truyện Kiều có câu: Bình Khang nấn ná bấy lâu. Người Pháp dịch: Maison des chantenses thì không lột tả được ý nghĩa của câu thuật ngữ này.

(3) Trường Thi Phú Xuân: ở địa phận phường Ninh Bắc trong kinh thành Huế nay là phường Tây Lộc. Đầu đời Gia Long dựng ở xã Đốc Sơ, triều Minh Mạng đời đến địa phận làng Nguyệt Biều.

(4) Sảng Đình Nguyễn Hy Thích: còn tên là Nguyễn Văn Thích - Ngoài là một linh mục, giáo sư, dịch giả ông còn là một họa sĩ. Nổi tiếng trong dân gian 2 bài hát: Vui ca lên và Ngôi nhà Việt Nam. Quê quán: thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền. Ông thi Hương trúng cách Tam trường khoa Mậu Ngọ, 1918. Không đỗ Tú tài Hán học, ông chuyển qua học trường Pháp Việt và đỗ bằng Cao đẳng Tiểu học.
(Sưu tầm bài viết của tác giả LÊ QUANG THÁI từ trang http://www.tapchisonghuong.com.vn)

VĂN HÓA XƯA VÀ NAY: Chửi tục & Chửi thề.

Chửi thề, văng tục!


Ngày nay hầu như nước nào cũng biết tổ chức lễ tuyên thệ. Giơ tay, mở miệng thề. Tổng thống thề lèo lái con thuyền quốc gia tới bến vinh quang. Bác sĩ thề “cứu nhân độ thế”, coi tiền bạc là chuyện nhỏ. Đồng hội đồng thuyền thề che chở đùm bọc nhau…
Chửi thề, văng tục!
Ảnh chỉ mang tính minh họa
Thề trong nhà. Thề ngoài trời. Thề trước bàn thờ. Thề trước đám đông…

Thề là cái gì mà ghê gớm vậy?

Thề là: Đoan thệ, giao ước, nguyện chắc, hứa chắc (Tự vị Huỳnh Tịnh Của, 1895).

Đời Lý (thế kỉ 11) nhà vua bắt các quan uống máu ăn thề. Lời thề giản dị: Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin than minh giết chết. Nhà vua muốn con cái phải có hiếu với cha mẹ và bề tôi phải trung thành với vua. Thiên tử trọng chữ trung hơn chữ hiếu.

Nước nhà lâm nguy, toàn dân không cần đợi vua cho phép, cùng nhau đứng lên thề.

Ra đi không về.
Thề cứu lấy nước nhà, thề hy sinh đến cùng…
- Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi, không về cùng non.

Ngàn năm giao ước kết đôi,
Non non nước nước chưa nguôi lời thề
                   (Tản Đà, Thề non nước)

Lời thề cứu nước không cần thần minh chứng giám, chẳng sợ ma quỷ vật chết.

Thời bình, dân Việt tiếp tục thề. Động một tí là thề. Thề không biết chán.

- Xưa kia nói nói thề thề,

Bây giờ bẻ khóa trao chìa cho ai?

Giữ được lời thề hay không lại là chuyện khác. Hạ hồi phân giải.

Cô Kiều có thể tự hào là người được tham dự, chứng kiến nhiều kiểu thề nhất. Thề viết lên giấy, thề dưới bóng trăng, thề trong khói hương, thề bên chén rượu. Trước sau đếm được cả chục lần khách mày râu thề thốt. Chính cô Kiều là người đã để lại kiểu tóc thề (đã chấm ngang vai) cho các cô ngày nay.

Điều thú vị là nước ta “gì cũng có”, có cả cá biết thề.

- Mồng bốn cá đi ăn thề,
Mồng tám cá về cá vượt Vũ môn.

Lời thề của cá chắc cũng là một loại… Thề cá trê chui ống mà thôi.

Văn học của ta có rất nhiều bài viết, câu ca ca tụng những cái hay cái đẹp của đất nước, dân tộc. Đặc biệt là phong cách thanh lịch, kín đáo, hào hoa của người Hà Nội, người Huế, người Sài Gòn… Biên khảo tuy nhiều nhưng dường như vẫn còn thiếu một mảng đề tài quan trọng là thói xấu hay chửi (hay chưởi) của dân ta.

- Chưởi là nói điều xúc phạm, dùng lời thô tục mà làm nhục nặng. Chưởi cha mắng mẹ (Tự vị Huỳnh Tịnh Của).

Không thấy sử chép vua nào bắt các quan họp nhau chửi. Tạm suy ra là vua quan ngày xưa không biết chửi. Hoặc biết chửi nhưng chửi thua dân. Sử quan không đủ can đảm để chép cái yếu kém của vua. Sợ mắc tội phạm thượng.

Khó mà biết được dân ta bắt đầu chửi bới nhau từ bao giờ. Chỉ biết rằng Tự vị Alexandre de Rhodes (1651) có chưởi. Một bằng chứng cho thấy tổ tiên chúng ta biết chửi nhau từ giữa thế kỉ 17, hoặc sớm hơn nữa.

Chửi có hai loại là chửi thẳng và chửi đổng.

Chửi thẳng là chửi người có mặt hay gọi tên người vắng mặt ra mà chửi. Chửi đổng là chửi vu vơ, ám chỉ một người nào.

Ngày xưa, nhà Lê quy định rất nhiều hình phạt về tội đánh nhau, chửi nhau, áp dụng cho từ hàng quan tam phẩm xuống đến dân thường. Phạt nhẹ thì bị đánh bằng roi, cho nộp tiền. Phạt nặng có thể bị tù đày, thậm chí bị xử tử(1).

- Bớ cái thằng gian thần tặc tử (tên A) kia, ra đây cho ta hỏi tội!

Chửi thẳng thằng X của triều đình như vậy chỉ có cải lương hay hát bội, tuồng tàu mới dám làm. Ngoài đời thật mà ăn nói như vậy e rằng thằng nói sẽ bị hỏi tội trước khi lời doạ đến tai thằng X.

Dân gian thường chửi đổng để tránh tai vạ. Tiêu biểu cho chửi đổng là lối “chửi mất gà” của mấy bà miền Bắc:

- Chém cha đứa bắt gà nhà bà! Chiều hôm qua, bà cho nó ăn hãy còn, sáng hôm nay, con bà gọi nó hãy còn, mà bây giờ mày đã bắt mất. Mày muốn sống mà ở với chồng với con mày, thì mày buông tha thả bỏ nó ra, cho nó về nhà bà. Nhược bằng mày chấp chiếm, thì bà đào thằng tam đại tứ đại nhà mày lên, bà khai quật bật săng thằng ngũ đại lục đại nhà mày lên. Nó ở nhà bà, nó là con gà, nó về nhà mày, nó biến thành cú thành cáo, thành thần nanh đỏ mỏ, nó mổ chồng mổ con, mổ cái nhà mày cho mà xem. Ớ cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia! Mày mà giết gà nhà bà, thì một người ăn chết một, hai người ăn chết hai, ba người ăn chết ba, mày xuống âm phủ, mày bị quỷ sứ thần linh rút ruột ra, ớ cái thằng chết đâm, cái con chết xỉa kia ạ!(2).

Ai dám chê miệng lưỡi thô kệch của nhà quê? Tiến sĩ văn chương dùng chữ có “đắt” bằng “văn chương truyền khẩu” của người nông dân mù chữ sống sau lũy tre xanh không?

“Văn minh miệt vườn” miền Nam cũng tỏ ra không thua kém miền Bắc.

- Con hai mầy ăn ở phi thường, thiệt mầy đồ đĩ thõa, mèo đàng chó điếm, mầy ăn đàng sóng mầy nói đàng gió, mầy hại cha con tao bận này nghèo to(3).

Từ ngày đám bình dân đem cả những tiếng chửi tục tằn ra làm lời thề thì nước ta có thêm món chửi thề, tổng hợp của chửi và thề.

Chửi thề dễ hiểu, dễ nhớ. Hầu như người Việt nào cũng biết.

Nguyễn Văn Vĩnh từng chê dân ta có thói quen Gì cũng cười (khoảng 1914). Cười vô duyên. Công bình mà nói thì Nguyễn Văn Vĩnh hơi khó tính! Nghe Nguyễn Trường Tộ điều trần Về việc cải cách phong tục (1871) của nước ta, mới thấy rằng Gì cũng cười còn hơn Gì cũng chửi thề…

- Nước ta những nơi thành phố chợ búa không luận đàn bà trẻ con ngu dốt không biết gì đến người có học có biết chữ mà mở miệng là nói tiếng mắng chửi và lời thô bỉ nói luôn đầu môi. Tập thành thói quen, những tiếng mắng cha chửi mẹ” cùng tục tĩu, người nghe đến nhơ cả lỗ tai mà tự người nói lại lấy làm khoái, cho đến dạy câu mắng, học bài chửi, đọc ra có cung, có điệu. Nếu như người nào mắng chửi cả ngày mà không trùng lặp, thì người ta xem như Tô Tần, Trương Nghi trong khoa mắng chửi, chiếm giải quán quân vì miệng chửi như nước chảy không khi nào cạn vậy!

Đến lúc diễn ra cái bộ dạng mắng chửi, tiếng như mõ rao, chân như múa hát, lên tay, xuống ngón, mặt như sơn đổ, tóc như tơ vò, nước miếng như bọt giải, tay cầm đất lia, chân đi cà xiểng không khác gì người điên… Những thói xấu đó thật là ba phần giống người bảy phần giống ma quỷ. Trước đây lúc người Tây mới đến Gia Định (Nam Kỳ) một lần thấy hai người Nam đang mắng chửi nhau, lên tay xuống ngón, múa men v.v, họ xúm lại xem cho người Nam làm trò. Sau họ biết rõ hễ thấy đám mắng chửi nhau, thì dùng «ba toong» giải tán ngay.

Lại còn một điều xấu nữa, hễ có điều bất bình với ai thì phát thệ và nguyền rủa chúc dữ rất nặng (…)(4).

Người xưa có biết chửi thề không?

Từ điển Alexandre de Rhodes có hầu hết các từ chửi thề tục tĩu của ngày nay.

Có thể khẳng định rằng trong cuộc sống hàng ngày, các cụ ngày xưa có chửi thề. Tuy nhiên, thơ nôm của Nguyễn Trãi (1380 - 1442) và Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) không có chửi thề. Nhà nho còn sợ phép vua. Phép vua chưa thua lệ làng!

Vào khoảng cuối thời vua Lê chúa Trịnh (cuối thế kỉ 18) chửi thề mới bắt đầu xuất hiện trong thơ văn nôm.

Nguyễn Du lúc còn trẻ, “lang bang” đi chọc ghẹo gái, cũng đã từng văng tục:

- Phụt ngọn đèn trước mặt, đếch sự đời! Chẳng phải đứa tiểu tâm
Đùng tiếng lói sau nhà, đù mẹ kiếp! Bỗng có thằng đại phá.
                           (Văn tế Trường Lưu nhị nữ).

Phạm Thái thương tiếc nhà Lê, chán ghét xã hội thời Quang Trung:

- Chết về Tiên, Bụt cho xong kiếp,
Đù oả trần gian! Sống mãi chi! (Tự thuật).

- Ông nghe thấy nói trái tai:
Đù oả sấu đá Đồng-nai ngầy ngà… (Sơ kính tân trang).

Nguyễn Công Trứ buông lời Đùa sư, chửi rủa Thế tình bạc bẽo:

- Thuộc ba mươi sáu đường kinh, chẳng thần thánh phật tiên song khác tục
Hay tám vạn tư mặc kệ, không quân thần phục tử, đếch ra người.

- Đéo mẹ nhân tình đã biết rồi
Lạt như nước ốc bạc như vôi.

(có bản chép: Đù mẹ nhân tình đù mẹ đời)(5).

Cao Bá Quát bất mãn với triều đình Tự Đức, quay sang chửi đời:

- Tưởng đến khi vinh hiển đã an tường
Song nghĩ lại trần ai không đếch chỗ. (Tài tử đa cùng phú).

Ông mộ quân nổi lên chống lại triều đình. Nhưng cuối cùng thất bại, ông bị giết.

Hoàng Xuân kể nhiều chi tiết về cái chết của Cao Bá Quát:

- Cao bị bắt giam tại ngục Sơn Tây, rồi bị đóng cũi đưa về Hà Nội, và giải vào Huế…

Tới kinh, Quát bị bỏ ngục chờ ngày hành quyết.

Nằm trong ngục, Cao Bá Quát không hề sợ sệt, tự nhạo cái mộng đế vương của mình:

Một chiếc cùm lim chân có đế
Ba vòng xích sắt bước thì vương!

Sau được lệnh của triều đình, người ta giải ông cùng hai con (Bá Phùng và Bá Thông) về quê nhà để hành quyết.

Trước khi thọ hình, ông cũng còn ứng khẩu ngâm hai câu chửi rủa:

Ba hồi trống giục, đù cha kiếp
Một nhát gươm đưa, bỏ mẹ đời!(6).

Lãng Nhân cũng viết giống Hoàng Xuân, trừ hai câu thơ sau chép hơi khác.

Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa đ. mẹ thời!


Lãng Nhân chú: Thời là thời thế, mà cũng lại là tên vua Tự Đức! Có bản chép chữ thời ra chữ đời có ý than tiếc cho đời mình, e không phải khẩu khí họ Cao(7).

Cả hai giai thoại của Hoàng Xuân và Lãng Nhân đều hay nhưng… không đúng.

Sử nhà Nguyễn chép Cao Bá Quát bị «Phó lãnh binh ở Sơn Tây là Lê Thuận Đại đem quân tới đánh, Bá Quát bị thua chết ở trận. (…) Việc đến tai vua, sai đem thủ cấp Bá Quát truyền giao cho các tỉnh Bắc Kỳ bêu lên và khuyên bảo dân chúng rồi xé xác vất xuống sông.

Minh Mạng năm thứ 15 (1834) Bá Đạt cũng đỗ hương tiến trải làm tri huyện Nông Cống. Vì cớ của Quát cũng mắc tội chết, dân ở huyện lấy làm thương có lập đền thờ”(8).

Hoàng Đạo Thúy viết: “Quát đi khởi nghĩa, cuối cùng với em là Đạt bị hành hình một ngày”(9), cũng không khớp với chính sử.

Không có chuyện Cao Bá Quát bị giam trong ngục, bị giải vào Huế, bị chém ngoài pháp trường.

Bốn câu “khẩu khí”của giai thoại đã được người đời sau làm (cùm là cangue, xích là chaỵne của tiếng Pháp), rồi đem gán cho Cao Bá Quát(10).

Năm 1884, nước ta bị thực dân Pháp cai trị. Hịch Cần Vương ban ra. Nghĩa quân nổi lên khắp nơi. Chống Pháp. Chửi Pháp.

- Nó bõ công bòn mười cạnh đúc một chữ, đéo mẹ bò
Cầm như là kiếm ba năm thiêu một giờ, mồ cha cóc!
                   (Lê Trọng Đôn, Phú Trung Lễ thất hỏa)

Crivier bị nghĩa quân giết. Bọn theo Pháp làm văn tế thương tiếc, phe chống Pháp làm văn tế chửi rủa:

- Nó bắt được ông
Nó chặt mất sỏ
Cái đầu ông đâu?
Cái đít ông đó.

Khốn khổ thân ông,
Đéo mẹ cha nó…
              (Văn tế Crivier)

Nguyễn Khuyến mỉa mai nhà nho của buổi giao thời:

Hễ nhà chủ chi đếch nuôi hề
Rồi ông xem đồ chúng bay! (Phú Đồ ngông)
- Xem hoa, ta chỉ xem bằng mũi
Đếch thấy hơi hương một tiếng khà (Tạ lại người cho hoa trà)

Ca dao đôi khi cũng chửi đổng cho hả giận:

- Đù cha con bướm trắng, đù mẹ con ong vàng
Khen ai uốn lưỡi cho nàng nói chua.


Rồi đến thời kì Cách Mạng. Dân ta vùng lên đánh đuổi Nhật:

Chém cha lũ Nhật côn đồ
Bắt người cướp của, tha hồ thẳng tay.

Chửi thề được nhiều tác giả vô danh tham gia, đóng góp.

Truyện Phạm Công Cúc Hoa có đoạn kể:

Trạng nguyên Phạm Công đánh đồng thiếp xuống âm phủ tìm Cúc Hoa. Dọc đường Phạm Công gặp đám con hầu của Cúc Hoa đang tắm dưới sông. Lũ con hầu thấy người lạ bèn cất tiếng chửi mắng, xua đuổi. Phạm Công bực mình chửi lại:

Đù cha lũ đi ăn mày
Cả tớ lẫn thầy ăn đếch cho tao.

Giới bình dân đã tạo ra nhân vật Trạng Quỳnh để chửi vua chúa, quan lại của triều đình phong kiến:

“Một hôm trạng Quỳnh sai người đến nhiều cửa hàng thịt đặt mua. Ngày mai đến lấy sẽ trả tiền. Lại dặn nhà hàng nhớ thái giùm thịt. Hôm sau, chờ mãi không thấy ai đến lấy thịt, các nhà hàng đến nhà Quỳnh hỏi thì Quỳnh nói:

Không biết. Chắc có đứa nào chơi xỏ bà con đấy. Cứ réo tên thằng bảo thái mà chửi.

Bọn hàng thịt ức lắm, vừa kéo nhau về vừa réo ầm ĩ:

- Tiên sư thằng bảo thái! Tiên sư thằng bảo thái!

Bảo Thái là niên hiệu của vua”.

Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, nước ta có sách, báo viết bằng chữ quốc ngữ. Ít lâu sau có thêm thơ mới, tiểu thuyết.

Vũ Trọng Phụng đã đưa nhiều “phương ngữ Bắc kì” vào Số đỏ (1936): cần đếch gì, mẹ kiếp, có xấu cái đếch ông đây này.

Nguyên Hồng đưa rất nhiều tiếng lóng của bọn ăn cắp vào Bỉ vỏ (1938), nhưng không có một tiếng chửi thề. Bọn ăn cắp này không biết chửi thề chăng? Mãi sau này Nguyên Hồng mới văng tục (nhẹ thôi) trong Sóng gầm (1959):

Đui què mẻ sứt, ngu si đần độn gì mà sợ ế? Ế cái ba vạn bà đây này!
- Kệ bố chúng nó. Kệ tiên nhân chúng nó.

Ngày nay, chửi thề không còn xa lạ với mọi người.

Không phải chỉ có văn thơ mới biết chửi thề. Tranh dân gian của ta cũng biết chửi thề! Đùa hay thật vậy?

Tranh Oger (1910) có tấm vẽ một cửa hàng buôn bán tại Hà Nội.

Trên tường Nhà hàng đồng có cái của quý của quý bà kèm theo câu chửi thề viết bằng chữ nôm “Đéo mẹ cha đứa nào ở trong cái nhà này”.

Trên đây là mấy chuyện chửi thề của ngày xưa.

Còn ngày nay? Ngày nay, bọn hậu sinh khả úy tiếp tục gìn giữ và phát huy truyền thống chửi thề của cha ông… Du lịch đó đây, được tai nghe mắt thấy lắm cái lạ…

Lạ nhất là một thứ cấm độc đáo của thành phố Pleiku. Không phải cấm đái, cấm vứt rác, cấm chạy nhanh vượt ẩu, cấm sờ (hộp điện cao thế), cấm tụ tập của mấy thành phố văn minh.

Dưới chân tường một biệt thự sang trọng lồ lộ tấm “tranh dân gian” Cấm đ… bậy. Nét vẽ “hiện thực”. Dễ hiểu. Biểu cảm hơn tranh Nhà hàng đồng. Cấm được cái mục này thì giỏi thật!

Lần ấy vợ chồng chúng tôi đi tham quan Hoa Lư, đền vua Đinh.

Xe vừa vào bãi đỗ lập tức bị cả chục người bán bưu ảnh, bánh trái, nước ngọt, nước khoáng, ào ào lớn tiếng mời mua. Du khách ngồi xe lâu, bây giờ mới được vươn vai duỗi chân, chả ai để ý đến đám hàng rong. Chú hướng dẫn du lịch mời mọi người đi tham quan. Đám bán hàng đi kèm sát bên cạnh. Tiếng cười đùa trộn với tiếng chào mời, nghe như đám cãi nhau. Mấy người nước ngoài thích thú giơ máy chụp ảnh, quay phim.

Đoàn người nhích được độ hai chục mét thì bỗng có người lên tiếng:

Không ai mua gì đâu, đừng đi theo nữa.

Lập tức được con bé bán hàng đốp chát lại:

Có ai thèm mời cô đâu, mà cô phải chõ mõm vào.

Đoàn người tiếp tục đi. Con bé tiếp tục dúi chai nước vào tay người đàn bà nước ngoài.

Đã bảo đừng đi theo nữa. Người ta bực mình rồi đấy.

Cậy giàu lên mặt hả? Đừng đi theo cái đéo gì. Đây đi bán hàng chứ có phải đi đánh đĩ, theo trai đâu. Không mua đây cũng đếch cần.

Tao gọi công an cho mày xem.

Nghe nói gọi công an, con bé quay ngoắt, lủi mất. Mấy bà hàng rong xì xào:

Con bé láu quá nhỉ.

Hỗn láo, mất dạy thì có. Mới nứt mắt ra thì biết gì mà đánh với theo.

Cặp du khách người nước ngoài chả hiểu gì, chỉ nhìn nhau cười…

Một lần khác, trên chuyến xe khách Đà Lạt - Nha Trang.

Lơ xe thu tiền vé. Đến lượt ông khách ngồi bên cạnh.

Đi đâu, bố?

Cho xuống chỗ…

Hai chục ngàn.

Ông khách đưa tiền.

Còn thiếu 5 ngàn, bố!

Lơ xe tiếp tục thu tiền người khác. Lát sau quay lại ông khách.

Còn thiếu 5 ngàn, bố!

Đi tới đó 15 ngàn thôi.

Đ… mẹ bố, không chịu thì xuống, không lộn xộn.

Thôi, anh cầm đỡ cái mũ này.

Lấy mũ của bố để đi đái à?

Tôi hết tiền, xin anh 5 ngàn!

Đ… mẹ, nói thẳng cho rồi. Xin thì cho.

Năm ngoái…

Chúng tôi đang trò chuyện với mấy nhân viên khách sạn trong Ngõ Huyện (Hà Nội) thì bỗng có tiếng xe máy nổ ầm ầm bên ngoài. Tất cả hốt hoảng chạy ra xem có chuyện gì? Dọc con ngõ hẹp, nhiều người đang xôn xao chỉ trỏ, ra hiệu cho một chiếc xe máy ngừng lại. Nhưng xe vẫn tiếp tục phóng len lỏi giữa đám hàng rong. Khói trắng phun mịt mù. Lái xe là một thanh niên, quần cụt, chân đất, đầu trần, có vẻ như đang chạy trốn. Đến ngang chỗ chúng tôi đứng, bất ngờ nó quay sang văng thẳng vào mặt tôi:

- Địt mẹ mày!

Chiếc xe chồm lên. Khói trắng mịt mù. Mọi người lo sợ xe bốc cháy…

Lại tụi du côn ở chỗ khác kéo nhau ra Hà Nội kiếm ăn, bác ạ!

Trong Sài Gòn, dưới Bến Tre cũng có lần tôi được nghe câu nói tương tự như vậy. Nhưng người trần mắt thịt đi du lịch làm sao phân biệt được dân tứ chiếng với dân chính gốc?

Nhớ lại một câu chuyện vui của người Hà Nội:

“Hai nhà giáo trò chuyện, bàn về vấn đề giáo dục tuổi trẻ.

Một ông than:

Hôm nọ đi hóng mát bờ hồ, tôi được nghe hai cô nói chuyện: “Đéo mẹ cái thằng ấy, mới quen nhau mà nó cứ nhằng nhặc đòi đ. tao!” Bậy bạ đến thế là cùng.

Ông kia chép miệng:

Bọn trẻ bây giờ mất dạy quá! Tôi rất lo ngại. Luôn miệng nhắc nhở con bé nhà tôi phải ăn nói cho đàng hoàng, lễ phép. Nhưng, nhắc mãi nó vẫn đéo nghe! Đéo dạy được!”.

Làm sao phân biệt được đùa với thật?

Lyon, 11/2014
N.D
(SDB15/12-14)


--------------
(1) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Sử Học, 1961, tr. 138-143.
(2) Nguyễn Công Hoan, Bước đường cùng, 1938.
(3) Nguyễn Văn Tròn, Bùi Kiệm dặm, trích theo Nguyễn Đình Chiểu trong cuộc đời, Ty Văn hóa và Thông tin Bến Tre, 1982, tr. 143.
(4) Trương Bá Cần, Nguyễn Trường Tộ, con người và di thảo, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1988, tr. 375.
(5) Lãng Nhân, Chơi chữ, Zieleks, 1979, tr. 156.
(6) Hoàng Xuân, Cao Bá Quát thi tập, Á Châu, 1959, tr. 7.
(7) Lãng Nhân, Giai thoại làng Nho, Nam Chi tùng thư, 1966, tr. 316.
(8) Cao Xuân Dục, Đại Nam chính biên liệt truyện, Văn học, 2004, tr. 1053.
(9) Hoàng Đạo Thúy, Thăng Long-Đông Đô-Hà Nội, Hội Văn nghệ Hà Nội, 1971, tr. 64.
(10) Nguyễn Dư, Cùm lim, xích sắtChim Việt cành Nam số 32, tháng 8/2008.

(Sưu tầm bài viết của NGUYỄN DƯ từ trang http://www.tapchisonghuong.com.vn)

THỰC PHẨM VÀ SỨC KHỎE

Một Số Loại Rau Thơm: Vừa làm gia vị vừa làm thuốc


Món ăn ngon tùy thuộc vào phẩm chất của thực phẩm và kinh nghiệm nấu nướng của  người làm bếp. Nhưng món ăn ngon, đặc biệt là đối với các món ăn Việt Nam, cũng nhờ được thêm vào những chất phụ, những ngọn rau có hương vị khác nhau.

Thực vậy, những ngọn rau thơm đã nâng cao giá trị của các món ăn, làm cho món ăn trở nên hấp dẫn hơn với các mầu sắc khác nhau, làm tăng hương vị món ăn với các tinh dầu có sẵn trong rau.
Số lượng rau gia vị thêm vào mỗi món ăn không cần nhiều, mà chỉ loáng thoáng nhưng thiếu chúng là không được.

Và vì thế, khi bắt đầu cuộc sống xa quê hương hơn ba mươi năm về trước, mỗi người chúng ta đều e ngại không có rau thơm để ăn. Nhất là ở nước Mỹ, khi mà lệnh cấm nhập cảnh các loại hạt giống cũng như rau trái cây bị nghiêm ngặt cấm. Từ nước ngoài trở về Mỹ, nhất là từ vùng Đông Nam châu Á là được các thầy cô quan thuế phi, hải cảng cặn kẽ, soi mói hỏi: có thịt, có trái cây, hạt giống...không. Và hành lý bị lục tung để khám xét.
Ấy vậy mà những con Rồng cháu Tiên cũng đã có cách. Đủ loại rau được trồng, từ Bắc kỳ rau muống tới Nam kỳ diếp cá... Đi qua cửa nhà nào thấy có khoảnh đất nhỏ xanh um mấy loại rau thơm thì y chang là bà con “anamitoòng” mình.

Ngày nay, chúng ta có đủ loại rau thơm mà quê hương ta trồng được. Nhờ đó, món ăn Việt Nam đượm dân tộc tính, làm giàu cho nền văn hóa ẩm thực các quốc gia có người Việt sinh sống.
Xin tìm hiểu hữu dụng của mấy ngọn rau thơm này.

1-Rau Răm


Rau răm có mùi thơm, vị chát, hơi cay cay, đặc biệt hấp dẫn. Hấp dẫn như người thiếu phụ hơi nhiều tình cảm mà lại có “con mắt lá răm, lông mày lá liễu”... Người Trung Hoa gọi răm là Thủy Liễu, Lão Liễu.
Về phương diện ẩm thực, ăn hột gà hột vịt lộn mà thiếu rau răm thì có thể gây ra đầy bụng, khó tiêu.
Canh sáo thịt bò, cật heo phải có mươi lá rau răm thái nhỏ cho ngọt nước, ngọt thịt.

Bát bún thang cần vài sợi rau răm, vài giọt tinh dầu cà cuống thì mới đúng là bún thang Hà Nội ngàn năm văn vật.
Cá diếc nấu với rau sam và ớt tươi vẫn cần mấy lá răm để dịu mùi tanh. Riêu hến, riêu trai cộng thêm mấy lá răm ăn vào mát ơi là mát!
Và tô bún bò Huế nóng hổi, cay đến chẩy nước mắt bắt buộc là phải có những lá rau răm thon thon, xanh xanh ...
Rau răm được dùng để kích thích tiêu hóa, đầy hơi, đau bụng, chống nôn mửa, thông tiểu tiện, chữa nóng sốt, chữa rắn cắn, sâu quảng, hắc lào trên da...
Rau răm còn được những người “tiết dục” ưa dùng vì cho rằng rau có khả năng làm bớt tinh khí, “dịu tình, giảm cơn bốc dục”.

2-Húng quế


“Húng làng Láng, đào Nhật Tân” chắc là đang đi vào dĩ vãng, vì sự đô thị hóa thành phố, di dời dân chúng. Những khu nhà cao tầng, cơ sở nhà nước đang được dựng lên thay cho rau cỏ, hoa lá. Làng Láng nằm ở ven đô Hà nội. Dân chúng cha truyền con nối trồng các loại rau, nổi tiếng là rau thơm.
Húng làng Láng đã đi vào văn học dân gian với:
“Vải Quang, Húng Láng, Ngổ Đầm,
Cá rô Đầm Sét, sâm cầm Hồ Tây”
hoặc:
“Ở đâu thơm húng, thơm hành,
Có về làng Láng, cho anh theo cùng
Theo ai vai gánh vai gồng
Rau xanh níu gót bóng hồng sông Tô”

Húng quế còn có tên gọi là húng chó, húng giổi, rau é.
Húng có nguồn gốc từ Ấn Độ, Trung Hoa, nhưng hiện nay được trồng tại nhiều quốc gia để lấy tinh dầu chế biến chất thơm. Ở Việt Nam trước đây húng được trồng để lấy lá làm gia vị và hạt làm nước giải khát.

Húng có mùi thơm thoang thoảng, vị cay nhè nhẹ rất thích hợp với phở nước, phở xào, bò bẩy món, gỏi cuốn, tái dê, dồi lợn ...
Húng quế còn đi với “cờ tây”, bò bía, bì cuốn hoặc với “tứ thời bát tiết canh chung thủy” Mà phải là tiết canh lợn, tiết canh dê, tiết canh vịt, tiết canh chó chứ chớ có tiết canh gà, vì các cụ cho là huyết gà ăn sống rất độc...Một miếng tiết canh với chút nước chanh, mấy hạt đậu phọng, vài lá ngò gai, ngò ôm, húng quế mà chiêu với hớp rượu lúa mới thì, hết chỗ nói..

Rau hung héo thâm đen rất nhanh, nhất là khi để trong tủ lạnh. Tuy nhiên, sau khi ngâm vào nước khoảng nửa giờ thì rau tươi trở lại. Nên cất rau trong túi giấy kín miệng, để ở chỗ có nhiệt độ mát.
Húng có nhiều dầu thơm, được sử dụng trong kỹ nghệ chế biến chất thơm và làm thuốc.

Trong y học, húng quế được dùng để chữa cảm mạo, long đờm thông đường hô hấp, đau dạ dày, đầy bụng khó tiêu, ngậm trong miệng để bớt hôi miệng, chữa đau răng, sâu răng, lợi tiểu tiện, diệt giun sán, trị nấm ngoài da ...
Hột húng quế có nhiều chất nhờn. Khi ngâm vào nước, chất nhờn nở ra, bao quanh hạt và  được dùng để nấu chè hột é, uống vào giải nhiệt, bớt táo bón.

3-Thìa là


Thìa là có nguồn gốc từ vùng ôn đới nên cây thường được trồng vào mùa đông- xuân ở miền bắc Việt nam, còn các tỉnh phía nam thì hầu như không có thảo gia vị này.
Lá thìa là mảnh mai như những chiếc kim khâu, nhưng có vị cay và mùi thơm “mãnh liệt” có thể làm át mùi tanh của các loại cá.

Cho nên canh chua cá lóc, chả cá Lã Vọng, Sơn Hải, cá quả nấu ám, lẩu cá lăng Việt Trì... mà không có nắm rau xanh xanh mảnh mai này đi kèm với các gia vị khác thì chắc cũng có nhiều người không muốn nhúng đũa.
Giò trâu, chả trâu, chả rươi mà loáng thoáng có những sợi thìa là thì ăn thơm khó tả...
Ba ba nướng chả, ngoài nghệ, tía tô, riềng, tiêu, chanh, ớt vẫn cần có thêm một nắm thìa là mới dậy vị.
Dân gian dùng nước cất hoặc tinh dầu quả thìa là để trị đau bụng trẻ em, lợi sữa cho bà mẹ, kích thích trung tiện, giúp cho sự tiêu hóa, đái rắt, sốt rét, thận suy, tỳ yếu...
Tinh dầu thìa là cũng được dùng để ướp trà, làm xà phòng thơm.

4-Rau diếp cá


Diếp cá còn có tên là cây lá giấp, rau giấp, trấp cá, ngư tinh tảo.
Diếp cá có vị cay, mùi tanh hôi, tính ấm mát, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu viêm, lợi tiểu.
Diếp cá mọc hoang khắp nơi và lan tràn rất mau. Mấy cọng rau mới cài ở góc vườn ngày nào, mà chỉ vài tuần sau đã um tùm những diếp cá.

Đây là món ăn ưa thích của người miền Nam, nhưng hơi lắc đầu “nhăn mặt” với người miền Bắc, vì vị tanh tanh. Nhưng cái tanh tanh, béo béo của diếp cá lại rất “hợp nhất” với cái tanh của những miếng cá còn tươi. Phải chăng đây là duyên tiền định với tên “diếp cá”, ngư tinh tảo. Diếp cá thường được ăn sống với các loại rau thơm khác.
Theo Y học cổ truyền, diếp cá có vị cay, mùi tanh, tính mát có tác dụng giải độc, thanh nhiệt, lợi tiểu, điều kinh.
Lá diếp cá ăn vào rất mát, có thể làm trĩ hậu môn xẹp xuống.
Ngoài ra, diếp cá cũng được y học dân gian tại nhiều quốc gia dùng làm thuốc lợi tiểu tiện, hạ cao huyết áp, giảm ho, tiêu diệt vi khuẩn, chữa kiết lỵ, viêm phổi, sởi ở trẻ em, viêm tắc tia sữa, viêm xoang, viêm sưng tai giữa, đau mắt đỏ, kinh nguyệt không đều...
Người Nhật ưa thích gội đầu với nước ép diếp cá và nước, vì họ thấy mái tóc rất sạch và đẹp. Bị đau lưng, đau khớp mà tắm với nước nóng pha với nước diếp cá cũng bớt đau.
Bài thuốc với diếp cá theo kinh nghiệm dân gian:
Trĩ: 5-10g diếp cá, sắc lấy nước, ngâm vùng bị trĩ đồng thời ăn sống rau diếp cá vào mỗi bữa cơm.
Kinh nguyệt không đều, viêm phổi, viêm ruột: Diếp cá tươi, sắc lấy nước uống thường xuyên.
Diếp cá tươi cần được rửa sạch, cất trong tủ lạnh hoặc nơi mát.

5-Sả

Sả hoặc cỏ sả, sả chanh, hương mao là loại cỏ lá dài như lá lúa, sống lâu năm, mọc thành từng bụi. Cây và lá sả có một mùi thơm đặc biệt có thể hòa hợp với nhiều thực phẩm như thịt, tôm, lươn, ếch, cua ..Sả giúp món ăn dễ tiêu hóa hơn
Có nhiều món ăn có thể nấu với sả như ếch xào sả ớt, bún bò Huế, mì căn xào sả, thịt gà nạc xào củ sả, cá chiên ướp tỏi sả, lươn rang muối hoặc hầm với sả, pha nước mắm chấm với sả và nhiều vật liệu khác...
Vì có mùi thơm nên tinh dầu sả được dùng để làm nước hoa, xà phòng thơm.
Lá sả nấu sôi với lá chanh, ngải cứu làm nước xông, kích thích đổ mồ hôi, giải cảm.
Nước chiết củ sả có tính cách lợi tiểu, ra mồ hôi.
Cây sả trồng ở góc vườn vừa đuổi muỗi vừa khiến cho rắn không dám bén mảng tới gần nhà.

6-Tía tô


Tía tô hay tử tô là loại thảo thân thẳng có lông, lá mọc đối mép có khía răng, mầu xanh tím hoặc tím tía.
Tía tô được trồng khắp mọi nơi để làm gia vị hoặc làm thuốc. Tất cả các bộ phận của cây từ lá, hoa, củ tới cành, hạt đều dùng được, nhưng dùng nhiều nhất vẫn là lá.
Bún chả Hà Nội mà không có mấy là tía tô xanh xanh- tím tím ăn sam với rau sống thì cũng mất ngon.

Món giả ba ba, ốc nhồi, ếch, đậu phụ với mấy lá tía tô thái nhỏ chan lên bát bún là món ăn rất độc đáo.
Lại còn đậu phụ chiên chấm với mắm tôm kèm vài lá kinh giới, tía tô để mấy cụ nhâm nhi chút rượu; cà bung đậu phụ tía tô cho người muốn giảm béo; cháo trắng thật nóng kèm thêm vài củ hành ta, mấy lá tía tô thái nhỏ thì mồ hôi đầm đìa, cảm lạnh ra đi, người bệnh thấy khỏe khoắn, nhẹ nhõm...

Về phương diện y hoc cổ truyền, tía tô có vị cay, tính ấm, phát tán phong hàn, giải độc, tiêu tích, hạ khí.
Y học dân tộc mình dùng tía tô để trị ngoại cảm, nôn mửa, kích thích tiêu hóa, chữa ho, hạ đàm, giảm hen suyễn, tê thấp, giải ngộ độc cua cá, cầm máu, giúp ngủ ngon, kháng vi khuẩn, nấm, phòng ngừa sẩy thai, kích thích đổ mồ hôi ...
Hạt tía tô có nhiều tinh dầu được dùng ở Nhật Bản, Đại Hàn quét lên dù, lên giấy để tránh thầm nước.
Dân Nhật cũng hay uống trà tía tô để kích thích tuần hoàn, bổ thần kinh, giảm cân; rửa mặt gội đầu với nước tía tô để da, tóc khỏi khô.

7-Kinh giới


Kinh giới hoặc khương giới có vị cay ấm với công năng trừ phong, giải độc, tiêu viêm, cầm máu.
Món ăn gồm có bún, đậu phụ, mắm tôm với rau sống, lá kinh giới ở ngõ Phất Lộc Hà Nội luôn luôn đông khách, dù là món ăn rất bình dân.
Rau muống xào với tỏi mỡ phải ăn kèm với vài lá kinh giới mới ngon miệng.
Chả cá, bún chả Hà Nội, các món gỏi cần có mấy lá kinh giới kèm với rau sống thì mới thỏa mãn khẩu vị.
Hoa và lá kinh giới được dùng trong dân gian để chữa cảm mạo, nhức đầu, hoa mắt, nóng sốt, viêm sưng cuống họng, nhức mình, nôn mửa, đổ máu cam, đại tiểu tiện ra máu, lở ngứa ngoài da..

Có nghiên cứu nói đậu phụ ăn với kinh giới có thể phòng chống loãng xương ở phụ nữ, nhờ có estrogen thực vật trong hai loại thức ăn này
Danh y Trung Hoa Hoa Đà đã thành công chữa một sản phụ bị băng huyết bằng bột hoa kinh giới sao khô tán nhỏ

8-Xương sông lá lốt

Xương sông 

Lá lốt

Xương sông là loại cây cỏ, thân đứng, lá mọc so le hình mác, cạnh khía răng. Rau có nhiều ở vùng nhiệt đới. Toàn cây có mùi rất đặc biệt, tương tự như mùi dầu hôi.
Lá là bộ phận được dùng để làm gia vị và thuốc chữa bệnh.

Vì có mùi hơi lạ, nên không ai ăn lá xương sông sống mà được dùng để gói thịt heo, thịt bò nướng chả. Lá sẽ tái đi, tinh dầu ngấm vào thịt và cho một vị béo ngậy khác thường.
Lá xương sông nấu canh thịt, canh cá ăn rất ngon..
Nước lá xương sông đun sôi được dùng để chữa cảm sốt, ho sởi, trúng phong, đầy bụng ...hoặc rang nóng rồi chườm lên khớp xương đau nhức.
Xương sông thường đi đôi với lá lốt.
Lá lốt to như lá trầu không, có vị nồng, hơi cay.
Lá lốt gói thịt heo hay thịt bò băm nhỏ, thêm gia vị mắm muối rồi nướng than hồng, khi ăn chấm với mắm nêm pha chanh, ớt, đường, tỏi...
Lá lốt thái nhỏ nấu với ốc là món ăn rất hấp dẫn.
Lá lốt có tác dụng chữa đau xương, tê thấp, đổ mồ hôi tay, đầy hơi, tiêu chẩy...

Nước sắc lá lốt được dùng để ngâm chân tay khi đổ nhiều mồ hôi ...
Rồi lại còn rau ngổ um lươn; ngò gai ăn với thịt heo luộc chấm mắm tôm chua xứ Huế; khế chua, chuối xanh, hành sống, gừng già, kinh giới, tía tô, mùi tầu ăn với thịt ba chỉ luộc chấm mắm tép đồng ruộng; giềng lót nồi cá kho tộ, giềng kết nghĩa với “cầy tơ” bẩy món; me, muỗm, nhót nấu canh thịt canh cá; lá chanh non ăn với thịt gà đồng quê luộc, bộ ba lá mơ tam thể, đinh lăng và lá sung kết hợp với gỏi cá, nem chạo; khế chua nấu riêu với cua đồng ...
Và nhiều ngọn rau thơm khác nữa....

Nhà văn ẩm thực danh tiếng Băng Sơn của Hà Nội có viết: “Gia vị chỉ là vai phụ trong sân khấu bữa ăn, nhưng thiếu vai phụ này thì vai chính chả diễn được với ai. Người diễn viên phụ chỉ ra sân khấu thoáng qua, nhưng ấn tượng để lại là không thể phai mờ”.
Thật là một nhận xét rất xác đáng!

BS Nguyễn Ý Đức

HIỂU LỊCH SỬ ĐỂ YÊU NƯỚC HƠN

Lý Công Uẩn, quân vương vĩ đại, khai sáng nghìn năm hưng thịnh nước Nam (P.3): Văn võ oai hùng, uy chấn bốn phương   Một bậc thánh n...